- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T phamj tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 28/2022/HSST Ngày: 23/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lường Văn Dũng
2. Ông Bùi Như Lữ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Thào A Sùng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn T (tên gọi khác: không), sinh năm: 1993 tại tỉnh Điện Biên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: bản M, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Lào; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: nông nghiệp; trình độ văn hóa: 10/12; con ông Lò Văn P, sinh năm 1958 và bà Lò Thị P, sinh năm 1957; vợ: Lò Thị M, sinh năm 1996; con: không; tiền án: không; tiền sự: 01 tiền sự, theo Quyết định số 01/QĐ-TA ngày 03/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đ đưa Lò Văn T vào cơ sở giáo dục bắt buộc 20 tháng, đến ngày 01/9/2021 chấp hành xong về địa phương, đến khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 22/8/2022 chưa được xóa tiền sự; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/8/2022 đến ngày 31/8/2022 tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Bùi Thúy A, trợ giúp viên pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ ngày 22/8/2022, Lò Văn T cầm theo số tiền 100.000đ đi bộ từ nhà lên bản N, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến bản N, Lò Văn T vào nhà của một người đàn ông tên  và hỏi mua được 02 gói nhỏ Heroine giá 100.000đ. Sau khi mua được ma túy, T cất vào trong ví giả da rồi đi bộ về nhà, khi đến bản M, xã M thì bị tổ công tác công an xã M phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ của Lò Văn T là 02 gói nhỏ nilon màu hồng và màu trắng chứa chất bột trắng nghi là Heroine và một ví màu đen, mặt trước có dòng chữ BOSS, HUGO BOSS.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, trích mẫu giám định ngày 22/8/2022 và Kết luận giám định số 1189/KL-KTHS ngày 30/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: số chất bột trắng thu của Lò Văn T có khối lượng 0,1 gam, mẫu trích 0,05 gam gửi giám định là ma túy loại Heroine.
Quá trình điều tra cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được người đàn ông tên  đã bán Heroine cho bị cáo.
Tại Cáo trạng số 105/CT-VKSĐBĐ ngày 14/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Lò Văn T về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy " theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn T về cả tội danh và điều luật, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Về vật chứng vụ án đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 0,05 gam Heroine còn lại sau giám định và chiếc ví da màu đen. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa nhất trí với việc truy tố bị cáo Lò Văn T về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và những đánh giá phân tích tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo Lò Văn T của đại diện Viện kiểm sát đã đưa ra trong bản luận tội. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đã đề xuất, không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì thêm với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi của bị cáo Lò Văn T bị truy tố thấy rằng:
Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, cụ thể bị cáo khai nhận vì nghiện chất ma túy nên ngày 22/8/2022 bị cáo đi tìm mua được 02 gói Heroine về sử dụng, chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Số Heroine bị thu giữ có khối lượng 0,1 gam. Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 22/8/2022, Biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định hành vi tàng trữ 0,1 gam Heroine của bị cáo Lò Văn T nhằm mục đích sử dụng là hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.
. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Bị cáo Lò Văn T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, xâm phạm chính sách quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng cần xử lý nghiêm minh.
. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Bản thân bị cáo vào năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Đ đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đến ngày 01/9/2021 về địa phương đến khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 22/8/2022 chưa được xóa tiền sự, chứng tỏ bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo cũng đã lập gia đình riêng nhưng không tu dưỡng rèn luyện bản thân xây dựng gia đình mà lại đua đòi bè bạn sử dụng ma túy dẫn đến nghiện, từ nghiện nên mua tàng trữ sử dụng dẫn đến phạm tội như ngày hôm nay, bị cáo phải chịu trách nhiệm cho hành vi của mình đã thực hiện.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng cho bị cáo.
Tại phiên tòa gia đình bị cáo giao nộp nhiều bằng khen của UBND tỉnh Điện Biên của bố bị cáo là ông Lò Văn P có thành tích trong làm ăn kinh tế, xây dựng đời sống văn hóa tại khu dân cư. Tuy nhiên Hội đồng xét xử không chấp nhận xem đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Như vậy phân tích về hành vi, tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ cần chấp nhận.
. Về hình phạt:
Hình phạt chính: Từ phân tích tại mục [1], [2] và [3] Hội đồng xét xử chấp nhận mức đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.
Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, thu nhập chỉ dựa vào làm ruộng, gia đình thuộc hộ nghèo, do vậy Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp như đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo phân tích đề xuất.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về vật chứng vụ án:
Vật chứng thu giữ của bị cáo là 0,1 gam Heroine, đã trích trừ giám định 0,05 gam không hoàn lại, còn 0,05 gam Heroine đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy toàn bộ theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với chiếc ví màu đen, mặt trước có dòng chữ BOSS, HUGO BOSS bị cáo dùng cất giấu ma túy, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
. Về các vấn đề khác trong vụ án: Đối với người đàn ông dân tộc Mông tên  bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được. Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T (tên gọi khác: không) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (một) năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 22/8/2022).
2. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy 0,05 gam Heroine (đã trừ giám định).
- Tịch thu tiêu hủy một chiếc ví màu đen, mặt trước có dòng chữ BOSS, HUGO BOSS.
Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 15/11/2022 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo .
4. Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/12/2022).
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; Người bào chữa; - Nhà tạm giữ C.A huyện Đ; - Cơ quan CSĐT C.A huyện Đ; - Phòng KTNV&THA TA tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS C.A tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - CC.THADS huyện Đ; - Lưu: Hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Nga |