- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Hoài C phạm tội "Vận chuyển hàng cấm" - tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Hoài C phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2026/HS-ST Ngày: 13/3/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Văn Toàn và bà Hồ Thị Hồng Nhung
- Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Nam Hải - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thiên Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2026/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2026/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:
Đoàn Hoài C, sinh ngày 20 tháng 01 năm 1979 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn L, xã L, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn C1, sinh năm 1942 và bà Lê Thị S, sinh năm 1950; vợ Võ Thị Thu T, sinh năm 1980; có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/12/2025 đến ngày 11/12/2025; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 03/12/2025, Đoàn Hoài C đi bộ từ nhà mình xuống bờ sông S thuộc thôn L, xã L, tỉnh Quảng Trị thì gặp một người đàn ông lạ mặt đang chèo đò vào bờ. Người đàn ông này hỏi thuê C vác một thùng pháo từ bờ sông lên ngã ba giao nhau giữa đường dân sinh với đường Q, thuộc thôn L, xã L, tiền công vận chuyển là 200.000 đồng thì C đồng ý rồi vác thùng pháo đi lên.
Vào lúc 23 giờ 30 phút cùng ngày, Công an xã L phối hợp với lực lượng chức năng tiến hànhtuần tra kiểm soát địa bàn; khi đến đoạn đường dân sinh thuộc địa phận thôn L, xã L, tỉnh Quảng Trị thì phát hiện Đoàn Hoài C đang đi bộ từ hướng bờ sông lên vác theo một kiện hàng được bọc bên ngoài bằng lớp nilon màu đen có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, phát hiện cụ thể như sau: Kiện hàng có kích thước (50x27x24)cm, bên ngoài là các lớp băng keo dán chồng lên 04 lớp nilon màu đen, bên trong có 01 thùng giấy cát tông kích thước (50x27x23)cm, trên bề mặt thùng giấy có dòng chữ "CHONG KOL C0840" và nhiều dòng chữ nước ngoài, chứa 06 hộp giấy có hoa văn nhiều màu sắc, trên bề mặt mỗi hộp có dòng chữ “CHONG KOL C0840” và nhiều dòng chữ nước ngoài, bên trong có chứa nhiều ống giấy hình trụ tròn được gắn kết thành khối.
Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đoàn Hoài C, tạm giữ 06 hộp giấy (được niêm phong trong 01 thùng giấy, ký hiệu P), 04 mảnh nilon màu đen (ký hiệu lần lượt từ A1 đến A4) và 01 thùng giấy (ký hiệu A5).
Kết luận giám định số: 1785/KL-KTHS ngày 10/12/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu P gửi đến giám định là pháo hoa nổ. Khối lượng 22,8kg.
Kết luận giám định số: 1786/KL-KTHS ngày 17/12/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:
- Phát hiện 01 (một) dấu vết đường vân trên bề mặt mẫu cần giám định ký hiệu A2 với đường vân tay in ở ô "Giữa phải" trên chỉ bản ghi tên Đoàn Hoài C (sinh năm 1979, trú tại thôn L, xã L, tỉnh Quảng Trị) - Ký hiệu M là đường vân của cùng một người.
- Phát hiện được một số dấu vết đường vân trên mẫu cần giám định ký hiệu A3; A4 nhưng dấu vết đường vân phát hiện được bị mờ nhòe, có đặc điểm ít nên không đủ yếu tố giám định.
- Không phát hiện được dấu vết đường vân trên bề mặt các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A5.
Cáo trạng số: 45/CT-VKS-KV7 ngày 05/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Đoàn Hoài C về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đoàn Hoài C phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Hoài C từ 50.000.000 đồng đến 55.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 thùng giấy niêm phong có ký hiệu mã số BGKL 1768, được dán kín mép bằng mảnh giấy niêm phong màu trắng, bên trên giấy niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu Phòng K Công an tỉnh Q (bên trong có 04 mảnh nilon màu đen, không rõ hình dạng, kích thước; 01 thùng giấy kích thước (50x27x23)cm, trên bề mặt có dòng chữ CHONG KLO C0840 và nhiều dòng chữ nước ngoài). (Kèm theo kết luận giám định số 1786/KL-KTHS ngày 17/12/2025).
- 01 thùng giấy niêm phong ký hiệu P, có chữ ký của người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q (bên trong thùng giấy có 05 hộp pháo hoa hoàn lại sau giám định).
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Hoài C đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình và bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát viên:
Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về tội danh:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 03/12/2025, tại thôn L, xã L, tỉnh Quảng Trị; lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang Đoàn Hoài C có hành vi vận chuyển 22,8kg pháo hoa nổ từ bờ sông S lên ngã ba giao nhau với đường Quốc lộ 9 nhằm mục đích nhận 200.000 đồng tiền công.
Hành vi của bị cáo Đoàn Hoài C đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi vận chuyển pháo hoa nổ của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với loại hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, lưu hành, sử dụng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do vụ lợi mà bị cáo vẫn thực hiện.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng, nên xử phạt bị cáo hình phạt tiền cũng đủ giáo dục, răn đe bị cáo.
Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Đoàn Hoài C tại Lệnh số: 07/2026/HSST-LCĐKNCT-TA ngày 06/021/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị.
Về xử lý vật chứng:
Số pháo hoa nổ còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành; các mảnh nilon, thùng giấy là vật không có giá trị sử dụng cần tích thu tiêu hủy.
Về vấn đề khác:
Đối với người đàn ông thuê bị cáo Đoàn Hoài C vận chuyển pháo, hiện thông tin mà bị cáo cung cấp về đối tượng nay còn ít nên không xác định được nhân thân, lai lịch nên không đủ cơ sở truy xét và xem trách nhiệm đối với đối tượng này.
Về án phí: Bị cáo Đoàn Hoài C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Hoài C phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Hoài C: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Nhưng được khấu trừ số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) mà bị cáo đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo Biên lai thu tiền ký hiệu BLTT/26E số 0000207 ngày 06/3/2026. Buộc bị cáo Đoàn Hoài C còn phải nộp số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 thùng giấy niêm phong có ký hiệu mã số BGKL 1768, được dán kín mép bằng mảnh giấy niêm phong màu trắng, bên trên giấy niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu Phòng K Công an tỉnh Q (bên trong có 04 mảnh nilon màu đen, không rõ hình dạng, kích thước; 01 thùng giấy kích thước (50x27x23)cm, trên bề mặt có dòng chữ CHONG KLO C0840 và nhiều dòng chữ nước ngoài). (Kèm theo kết luận giám định số 1786/KL-KTHS ngày 17/12/2025).
(Vật chứng hiện có tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận ngày 12/3/2026).
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 thùng giấy niêm phong ký hiệu P, có chữ ký của người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q (bên trong thùng giấy có 05 hộp pháo hoa hoàn lại sau giám định).
(Vật chứng đang được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/3/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh Quảng Trị).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đoàn Hoài C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - Công an tỉnh Quảng Trị; - VKSND khu vực 7; - Phòng THADS khu vực 7; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Thành |