- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D TTTPCMT khoản 1 Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38; Điểm a khoản 1 điều 46;Điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2025/HSST Ngày: 24/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Vũ Thu Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Doanh và ông Nguyễn Quyết Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Giang - Thư ký TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện VKSND huyện Văn Giang tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 24/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yênxét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 03/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HS ngày 10/3/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn D; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam.Sinh năm: 1989; Nơi sinh: huyện VG, tỉnh HY. HKTT: thôn CD QT, xã LN, huyện VG, tỉnh HY.Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Ngô Thị N.Vợ, con: Chưa có.Tiền án, tiền sự: Chưa có. Nhân thân: Ngày 11/12/2012, bị Công an huyện Văn Giang xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đ về hành vi đánh nhau. Ngày 26/12/2019, bị TAND huyện Văn Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích).Duy bị tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 26/12/2024thì chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Theo Lệnh trích xuất có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị N, sinh năm: 1969 (Có mặt);
Địa chỉ: Thôn CD QT, xã LN, huyện VG, tỉnh HY.
*Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1959 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn TL, xã TL, huyện VG, tỉnh HY
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 45 phút ngày 23/12/2024, tại thôn Dương Hạ, xã Thắng Lợi, huyện Văn Giang; Công an xã Thắng Lợi kiểm tra phát hiện Nguyễn Văn D, sinh năm 1989, hộ khẩu thường trú (HKTT):thôn CD QT, xã LN, huyện VG, tỉnh HY, đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Quá trình kiểm tra, đã thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của D đang mặc có 01 gói nilon màu đỏ dán mép, kích thước (2 x 1) cm, bên trong có 01 gói giấy kẻ ô ly màu trắng, bên trong chứa chất mầu trắng dạng cục và bột (nghi là ma túy), nên đã tiến hành niêm phong trong phong bì ghi ký hiệu M1. D khai nhận: số chất màu trắng dạng cục và bột bị thu giữ nói trên là ma túy, loại Heroine, D cất giấu với mục đích là để sử dụng. Ngoài ra lực lượng Công an còn thu giữ của D 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: xanh, biển số: 89AF-013.67. Công an xã Thắng Lợi đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, và đưa D đi xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể. Kết quả xét nghiệm xác định D dương tính với chất ma túy (MOP). Sau đó, D được đưa về Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Giang để giải quyết theo thẩm quyền.
Cùng ngày 23/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Giang Quyết định trưng cầu giám định về ma túy đối với vật chứng đã thu giữ của D trong niêm phong ghi ký hiệu M1. Tại Bản kết luận giám định số: 779/KL-KTHS(MT) ngày 26/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên xác định: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu M1, có tổng khối lượnglà0,288g, là ma tuý, loại Heroine (Heroin). Ngày 27/12/2024, bà Ngô Thị N, sinh năm 1969 (là mẹ của D) giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Giang 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 89000706, mang tên Nguyễn Văn D.
Quá trình điều tra D khai nhận: D là lao động tự do, thường xuyên sử dụng chất ma túy, loại Heroine từ năm 2019 đến nay. Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên khoảng 14 giờ 00 phút ngày 23/12/2024, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh, biển số: 89AF-013.67 đến khu vực gần chợ Đông Tảo thuộc xã Đông Tảo, huyện Khoái Châu thì gặp một người thanh niên (không rõ lai lịch cụ thể). D hỏi người này có hàng bán không (tức là có ma túy loại Heroine bán không) thì bán cho 200.000đ, người này nói: “có, nhưng phải chờ”. D đồng ý chờ, rồi đưa cho người này 200.000đ và xe mô tô của D để người này đi lấy ma túy. Người này đi khoảng 30 phút sau thì quay lại đưa cho D 01 túi nilon màu đỏ có dán mép túi (D biết bên trong túi là ma túy loại Heroine), người thanh niên trả lại cho D chiếc xe mô tô rồi bỏ đi đâu không rõ. D cầm gói mua túy vừa mua được, cất vào túi quần phía trước bên phải của mình, rồi điều khiển xe mô tô trên về đến thôn Dương Hạ, xã Thắng Lợi, huyện Văn Giang thì bị Công an xã Thắng Lợi kiểm tra, bắt quả tang như nêu ở trên.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 89AF-013.67 là xe có đăng ký ghi tên chủ phương tiện là Nguyễn Văn D. Qua xác minh xác định: chiếc xe này được bà Ngô Thị N sinh năm 1969 có HKTT tại thôn CD QT, xã LN, huyện VG, tỉnh HY (là mẹ D), bỏ tiền ra mua để D làm phương tiện đi lại, kiếm sống. Ngày 23/12/2024 D mang xe đi chỉ làm phương tiện đi lại không có mục đích cất giấu ma túy trong xe. Do đó ngày 07/02/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Giang đã trả lại chiếc xe trên cùng giấy tờ xe cho bà N.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của D không xác định được vị trí nên không có căn cứ xử lý.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số: 25/CT-VKSVG ngày 03/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên đã truy tố Nguyễn Văn D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, tỏ thái độ ăn năn hối cải.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà N xác nhận chiếc xe Honda Wave, màu xanh, biển số 89AF- 013.67 là do bà bỏ tiền ra mua để cho bị cáo D đứng tên và sử dụng đi làm. Cơ quan điều tra đã trả lại bà chiếc xe, bà không đề nghị xem xét giải quyết đối với chiếc xe nữa.
- Kết thúc phần xét hỏi đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang phát biểu bản luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38; Điểm a khoản 1 điều 46;Điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1,điểm a,c khoản 2Điều 106; Điều 135; Điều 136; Khoản 1 điều 293; Điều 299; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.Xử phạt Nguyễn Văn D từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 23/12/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy01 phong bì niêm số 779/KL-KTHS(MT), bên trong có 0,272g ma túy, loại Heroine (Heroin) trong niêm phong ký hiệu M1; 01 mảnh nilon màu đỏ; 01 mảnh giấy kẻ oly màu trắng gói ma túy và 01 phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
-Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì. Khi được nói lời sau cùng, bị cáotrình bày bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng:
Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật.
. Về hành vi phạm tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định,lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 23/12/2024, tại thôn DH, xã TL, huyện VG; Công an xã TL đã bắt quả tang Nguyễn Văn D đang có hành vi cất giấu trái phép trong người 0,288g ma tuý, loại Heroine. Mục đích D cất giấu số ma tuý nói trên là để sử dụng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cất giữ ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng do thường xuyên sử dụng ma túy nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”theo điểm ckhoản 1 Điều 249 BLHS. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật theo bản Cáo trạng là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn huỷ hoại sức khoẻ, trí lực của chính bị cáo, phá hoại kinh tế, hạnh phúc gia đình cũng như làm phát sinh các loại tội phạm khác. Chỉ vì để thoả mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân bị cáo bất chấp tác hại của ma tuý, coi thường pháp luật, cố ý tàng trữ để sử dụng nên cần xử lý bị cáo bằng một bản án thật nghiêm.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho D, Cơ quan điều tra Công an huyện Văn Giang đã điều tra nhưng không xác định được nhân thân, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:Bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ quy định của pháp luật, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo vàcác tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. HĐXX xét thấy, bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, tội phạm mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng nên cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, giúp bị cáo từ bỏ ma túy, cũng như góp phần phòng ngừa tội phạm chung.
.Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- 01 phong bì niêm số 779/KL-KTHS(MT), bên trong có 0,272g ma túy, loại Heroine (Heroin) trong niêm phong ký hiệu M1; 01 mảnh nilon màu đỏ; 01 mảnh giấy kẻ oly màu trắng gói ma túy và 01 phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu cho tiêu hủy.
Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, biển số 89AF- 013.67 là xe có đăng ký ghi tên chủ phương tiện là Nguyễn Văn D. Kết quả xác minh là tài sản của bà Ngô Thị N. Ngày 23/12/2024 Duy mang xe đi chỉ làm phương tiện đi lại không có mục đích cất giấu ma túy trong xe. Do đó ngày 07/02/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Giang đã trả lại chiếc xe trên cùng giấy tờ xe cho bà N là đúng pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38; Điểm a khoản 1 điều 46;Điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự.
- Khoản 1,điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Khoản 1 điều 293; Điều 299; Điều 331 vàĐiều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
2.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
3. Hình phạt:Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23/12/2024.
4. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm số 779/KL-KTHS(MT), bên trong có 0,272g ma túy, loại Heroine (Heroin) trong niêm phong ký hiệu M1; 01 mảnh nilon màu đỏ; 01 mảnh giấy kẻ oly màu trắng gói ma túy và 01 phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.
(Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 21/3/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Giang).
6. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm .
7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quancó quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Vũ Thu Giang |