- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Ngọc Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – GI TỈNH GI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2025/HS-ST Ngày 22 - 9 - 2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – GI, TỈNH GI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phương Quang.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Á.
Ông Nguyễn Hữu Tố.
- Thư ký phiên tòa:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Bà Huỳnh Thị Xuân Diệu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Gi.
+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Ngọc – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 6 – Gi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Chánh Thân - Kiểm sát viên.
+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Thành Tín - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Gi, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2025, đối với bị cáo:
Phan Ngọc Ch, sinh ngày 10 tháng 02 năm 1991 tại tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: Khu phố Tr, phường H, tỉnh Gi; căn cước công dân số 052091003421, do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 18/5/2023; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Siêng, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị Mười, sinh năm 1964; vợ: Trần Thị Hồng Bông, sinh năm 1994; con: Có 02 người sinh năm 2019 và 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/6/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Bà Phan Thị Bích B, sinh ngày 01/12/1986, địa chỉ: Khu phố M, phường H, tỉnh Gi (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
+ Bà Huỳnh Thị M, sinh ngày 01/01/1949, địa chỉ: Khu phố An Lộc 2, phường Hoài Nhơn, tỉnh Gi (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
+ Ông Trần Đại D, sinh ngày 21/01/1964, địa chỉ: Khu phố Gi, phường H, tỉnh Gi (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971, địa chỉ: Khu phố Gi, phường H, tỉnh Gi (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Trương Thị B, sinh ngày 02/9/1972, địa chỉ: Khu phố Trường An 1, phường Hoài Nhơn, tỉnh Gi (có mặt).
+ Ông Huỳnh Lê H, sinh ngày 07/11/1986, địa chỉ: Khu phố Tr, phường H, tỉnh Gi (có mặt).
+ Bà Đặng Thị L, sinh ngày 09/10/1985, địa chỉ: Khu phố Tr, phường H, tỉnh Gi (có mặt).
+ Ông Lê Văn T, sinh ngày 16/9/1990, địa chỉ: Khu phố M, phường H, tỉnh Gi (có mặt).
+ Bà Huỳnh Lê Hoa L, sinh ngày 01/01/1970, địa chỉ: Khu phố A, phường H, tỉnh Gi (vắng mặt).
- Người làm chứng:
+ Ông Nguyễn Đ, sinh ngày 02/9/1967, địa chỉ: Khu phố Tr, phường H, tỉnh Gi (vắng mặt).
+ Ông Vũ Hoài N, sinh ngày 19/11/1987, địa chỉ: Khu phố A, phường H, tỉnh Gi (có mặt).
+ Ông Nguyễn Hồng Ph, sinh ngày 07/9/1966, địa chỉ: Khu phố, phường H, tỉnh Gi (có mặt).
+ Ông Võ Khắc L, sinh ngày 20/12/1988, địa chỉ: Tổ dân phố T, phường H, tỉnh Gi (có mặt).
+ Ông Hồ Tấn Ph, sinh ngày 30/4/1989, địa chỉ: Khu phố H, phường T, tỉnh Gi (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 03/02/2025 đến ngày 21/3/2025, Phan Ngọc Ch đã thực hiện 06 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn phường Hoài Nhơn và phường Hoài Nhơn Nam, tỉnh Gi, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 03/02/2025, Phan Ngọc Ch điều khiển xe mô tô biển số 77Y1-2776 (xe thuê của bà Huỳnh Lê Hoa Lan) để đi chơi. Khi đến chợ Hoài Thanh thuộc khu phố An Lộc 2, phường Hoài Nhơn, tỉnh Gi thì Ch nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Ch nhặt 01 cây kim loại trong khu vực chợ để cạy phá 02 ổ khóa, đột nhập vào bên trong kiot của bà Phan Thị Bích Bổn, bẻ gãy 02 camera nhãn hiệu IMOU, dùng điện thoại di động bật đèn flast chiếu sáng để lấy 01 nồi áp suất điện, 02 nồi chiên không dầu, 01 nồi lẩu điện, 02 bếp hồng ngoại, 04 bếp gas, 06 chiếu trúc Thái Lan, 05 bì bột giặt OMO. Sau đó, Ch chở đi cất giấu tại Cửa hàng xăng dầu số 26 thuộc khu phố Tài Lương 4, phường Hoài Nhơn, tỉnh Gi. Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 04/02/2025, Ch thuê ông Nguyễn Đoan điều khiển xe taxi chở tài sản chiếm đoạt được đến tiệm tạp hóa của bà Trương Thị Bán ở Khu phố Tr, phường H, tỉnh Gi bán được 5.536.000 đồng. Tổng giá trị tài sản theo kết luận định giá là 11.157.000 đồng; giá trị 02 ổ khóa và 02 camera bị Ch phá hỏng là 960.000 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 04/02/2025, Phan Ngọc Ch điều khiển xe mô tô biển số 77Y1-2776 đi đến cửa hàng tạp hóa của bà Huỳnh Thị Mạo ở khu phố An Lộc 2, phường Hoài Nhơn, tỉnh Gi thấy cửa mở nhưng không có người trông coi, Ch đến rút dây điện nguồn camera, lấy 04 hộp bia Heniken (24 lon/hộp, loại 330ml/lon) chở đi bán cho ông Huỳnh Lê Huy ở Khu phố Tr, phường H, tỉnh Gi được 1.660.000 đồng. Tổng giá trị tài sản theo kết luận định giá là 1.760.000 đồng.
Vụ thứ ba: Khoảng 23 giờ ngày 07/02/2025, Phan Ngọc Ch mượn xe đạp của ông Lê Văn Tự điều khiển đến cửa hàng tạp hóa của bà Huỳnh Thị Mạo lấy 06 hộp bia Heniken (24 lon/hộp, loại 330ml/lon) và 02 hộp bia Tiger (24 lon/hộp, loại 330ml/lon) chở đi cất giấu tại Nghĩa trang liệt sỹ thuộc phường Hoài Nhơn, tỉnh Gi. Sau đó, Ch thuê anh Vũ Hoài Nam lái xe taxi đến chở và gửi bia cho anh Nam cất giữ. Đến ngày 08/02/2025, Công an phường Hoài Nhơn phát hiện, thu giữ toàn bộ tài sản. Tổng giá trị tài sản theo kết luận định giá là 3.400.000 đồng.
Vụ thứ tư: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19/3/2025, Ch thuê xe taxi (không rõ danh tính người điều khiển) đi từ nhà đến Cụm Công nghiệp Hoài Tân thuộc Khu phố Gi, phường H, tỉnh Gi lấy 07 bao bồ kết với tổng khối lượng 162,85 kg của vợ chồng ông Trần Đại Dũng và bà Nguyễn Thị Hoa ở Khu phố Gi, phường H, tỉnh Gi để tại bãi đất trống trong Cụm Công nghiệp Hoài Tân. Sau đó, Ch thuê xe taxi (không rõ danh tính người điều khiển) chở 07 bao bồ kết đến để tại Cây xăng dầu Hữu Nghị thuộc khu phố Tài Lương 4, phường Hoài Nhơn, tỉnh Gi. Trưa ngày 20/3/2025, Ch thuê ông Nguyễn Hồng Phương chở đến bán cho bà Đặng Thị Luận ở Khu phố Tr, phường H, tỉnh Gi được 5.700.000 đồng. Tổng giá trị tài sản theo kết luận định giá là 8.156.500 đồng.
Vụ thứ năm: Khoảng 19 giờ 25 phút ngày 20/3/2025, Ch thuê ông Võ Khắc Lai điều khiển xe taxi đi từ nhà đến Cụm Công nghiệp Hoài Tân; Ch tiếp tục lấy 05 bao bồ kết có tổng khối lượng 107,7 kg của vợ chồng ông Trần Đại Dũng và bà Nguyễn Thị Hoa. Sau đó, Ch thuê ông Võ Khắc Lai chở 05 bao bồ kết đến để tại Cây xăng dầu Thủy sản Hoài Nhơn thuộc khu phố Tài Lương 2, phường Hoài Nhơn, tỉnh Gi. Khoảng 07 giờ ngày 21/3/2025, Ch thuê ông Nguyễn Hồng Phương chở đến bán cho bà Đặng Thị Luận được 3.180.000đồng. Tổng giá trị tài sản theo kết luận định giá là 5.395.000 đồng.
Vụ thứ sáu: Vào tối ngày 21/3/2025, Ch tiếp tục thuê xe taxi (không rõ danh tính người điều khiển) đến lấy 05 bao bồ kết với tổng khối lượng 120,5 kg của vợ chồng ông Trần Đại Dũng và bà Nguyễn Thị Hoa. Sau đó, Ch thuê ông Võ Khắc Lai đến chở. Ông Lai nghi ngờ Ch có hành vi trộm cắp tài sản nên rủ ông Hồ Tấn Phùng đi cùng. Khi ông Lai và ông Phùng thấy Ch đang vác các bao bồ kết ra xe taxi thì giữ lại và trình báo Công an. Tổng giá trị tài sản theo kết luận định giá là 6.035.000 đồng.
Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gi đã tạm giữ, sau đó trả lại cho bà Phan Thị Bích Bổn toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và 02 ổ khóa đã hư hỏng; trả lại cho bà Huỳnh Thị Mạo 07 hộp bia Heniken và 02 hộp bia Tiger; trả lại cho ông Trần Đại Dũng và bà Nguyễn Thị Hoa tổng cộng 228,2 kg bồ kết; trả lại cho bà Huỳnh Lê Hoa Lan xe mô tô 77Y1- 2776 và ông Lê Văn Tự 01 xe đạp.
Đối với 01 cây kim loại và 02 camera thì Ch đã vứt bỏ; điện thoại di động sử dụng làm phương tiện trong việc rọi chiếu sáng để trộm cắp, liên lạc thuê vận chuyển thì Ch bán cho người khác, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Phan Ngọc Ch đã bồi thường cho ông Trần Đại Dũng, bà Nguyễn Thị Hoa số tiền 11.000.000 đồng; bà Huỳnh Thị Mạo số tiền 1.440.000 đồng; bà Phan Thị Bích Bổn số tiền 1.300.000 đồng; bà Đặng Thị Luận số tiền 3.180.000 đồng; ông Huỳnh Lê Huy số tiền 415.000 đồng; bà Trương Thị Bán số tiền 4.640.000 đồng; không ai có yêu cầu gì thêm.
Bản cáo trạng số: 67/CT-VKSKV6 ngày 03 tháng 9 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Gi, tỉnh Gi đã truy tố bị cáo Phan Ngọc Ch về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa bị cáo Phan Ngọc Ch đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến tranh luận gì.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Gi, tỉnh Gi thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Phan Ngọc Ch. Căn cứ vào hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; căn cứ vào nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Ngọc Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Ngọc Ch từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
+ Về bồi thường thiệt hại: Đã giải quyết xong.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Gi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa bị cáo Phan Ngọc Ch đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại, những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Từ ngày 03/02/2025 đến ngày 21/3/2025, tại phường Hoài Nhơn và phường Hoài Nhơn Nam, tỉnh Gi, Phan Ngọc Ch đã lợi dụng sự sơ hở của các chủ sở hữu; nhiều lần lén lút chiếm đoạt tài sản với tổng trị giá 35.903.500 đồng. Cụ thể như sau: Chiếm đoạt tài sản của bà Phan Thị Bích Bổn tài sản có giá trị 11.157.000 đồng, bà Huỳnh Thị Mạo tài sản có giá trị 5.160.000 đồng, vợ chồng ông Trần Đại Dũng, bà Nguyễn Thị Hoa tài sản giá trị 19.586.500 đồng . Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6, tỉnh Gi đã truy tố bị cáo Phan Ngọc Ch về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài cuộc sống bình thường của xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên có nhân thân tốt.
- Các tình tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện hành vi pham tội với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; bị hại Phan Thị Bích Bổn có đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gi đã thu giữ và trả lại cho bà Phan Thị Bích Bổn toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt; trả lại cho bà Huỳnh Thị Mạo 07 hộp bia Heniken và 02 hộp bia Tiger; trả lại cho ông Trần Đại Dũng và bà Nguyễn Thị Hoa tổng cộng 228,2kg bồ kết.
- Bị cáo Phan Ngọc Ch và gia đình đã bồi thường cho ông Trần Đại Dũng, bà Nguyễn Thị Hoa số tiền 11.000.000 đồng; bà Huỳnh Thị Mạo số tiền 1.440.000 đồng; bà Phan Thị Bích Bổn số tiền 1.300.000 đồng; bà Đặng Thị Luận số tiền 3.180.000 đồng; ông Huỳnh Lê Huy số tiền 415.000 đồng; bà Trương Thị Bán số tiền 4.640.000 đồng; không ai có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Các vấn đề khác liên quan đến vụ án:
- Phan Ngọc Ch có hành vi làm hư hỏng 02 ổ khóa, 02 camera của bà Phan Thị Bích Bổn. Tuy nhiên, tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 960.000 đồng và không thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm đ khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Do đó, hành vi của Ch không đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại Điều 178 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gi đã chuyển tài liệu đến Công an phường Hoài Nhơn, tỉnh Gi để xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
- Bà Trương Thị Bán, bà Đặng Thị Luận, ông Huỳnh Lê Huy là những người mua tài sản của Ch; ông Nguyễn Đoan, Vũ Hoài Nam, Nguyễn Hồng Phương, Võ Khắc Lai được thuê để vận chuyển nhưng những người này không biết tài sản là do Phan Ngọc Ch trộm cắp mà có; bà Huỳnh Lê Hoa Lan, ông Lê Văn Tự cho Phan Ngọc Ch thuê, mượn xe nhưng không biết Ch sử dụng làm phương tiện để đi trộm cắp tài sản, nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Phan Ngọc Ch phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Gi đề nghị áp dụng pháp luật và các vấn đề khác đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Riêng về mức hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù là có phần nghiêm khắc nên Hội đồng xét chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Ngọc Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Ngọc Ch 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/6/2025, là ngày bị cáo bị bắt tạm giam.
3. Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, không ai có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
4. Về án phí: Bị cáo Phan Ngọc Ch phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; các bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
6. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Gi;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Gi;
- VKSND khu vực 6 - Gi;
- Thi hành án dân sự tỉnh Gi;
- CQ CSĐT Công an tỉnh Gi;
- CQ THAHS Công an tỉnh Gi;
- Bị cáo; bị hại; ngườ i có quyền lợ, nghĩa vụi liên quan;
- Lưu: Hồ sơ vụ án.
Võ Phƣơng Quang TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 6 – GIA LAI
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc TỈNH GIA LAI
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi giờ ngày tháng 9 năm 2025.
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Gi, tỉnh Gia Lai.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phương Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Á.
Ông Nguyễn Hữu Tố.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2025 đối với:
Phan Ngọc Ch, sinh ngày 10 tháng 02 năm 1991; nơi cư trú: Khu phố Tr, phường H, tỉnh Gia Lai.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Ngọc Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Ngọc Ch 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/6/2025, là ngày bị cáo bị bắt tạm giam.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Về trách nhiệm dân sự:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai đã thu giữ và trả lại cho bà Phan Thị Bích Bổn toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt; trả lại cho bà Huỳnh Thị Mạo 07 hộp bia Heniken và 02 hộp bia Tiger; trả lại cho ông Trần Đại Dũng và bà Nguyễn Thị Hoa tổng cộng 228,2 kg bồ kết.
- Bị cáo Phan Ngọc Ch và gia đình đã bồi thường cho ông Trần Đại Dũng, bà Nguyễn Thị Hoa số tiền 11.000.000 đồng; bà Huỳnh Thị Mạo số tiền 1.440.000 đồng; bà Phan Thị Bích Bổn số tiền 1.300.000 đồng; bà Đặng Thị Luận số tiền 3.180.000 đồng; ông Huỳnh Lê Huy số tiền 415.000 đồng; bà Trương Thị Bán số tiền 4.640.000 đồng; không ai có yêu cầu gì thêm.
Về án phí: Bị cáo Phan Ngọc Ch phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi
giờ phút, ngày tháng 9 năm 2025.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN –
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Phƣơng Quang
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND tỉnh Bình Định; - VKSND thị xã HoàiNhơn; - Chi cục THADS thị xã Hoài Nhơn; - Cơ quan CSĐT CA thị xã Hoài Nhơn; - Cơ quan THAHS CA thị xã Hoài Nhơn; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Phƣơng Quang |