vanban.org

Bản án 28/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố: Các bị cáo Q1, Q2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2/ Xử phạt: Bị cáo Q1 24 (hai mươi bốn) tháng tù, tổng hợp với hình phạt của bản án số 91/2025/HS-ST ngày 18/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình) là 24 tháng tù, buộc bị cáo Q1 phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 4… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố: Các bị cáo Q1, Q2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HS-ST
Ngày 28 - 8 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huê và bà Nguyễn Thị Phương.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Q1 sinh năm 1963 tại Trung Quốc; nơi ĐKHKTT: số 029, thôn PS, Ủy hội thôn MB, thị trấn Đ.A, huyện BL, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc; trình độ văn hoá: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; tôn giáo: Không; quốc tịch: Trung Quốc (không có thân phận ngoại giao); dân tộc: Hán; con ông: Q, con bà: không xác định; vợ: T, sinh năm 1963; con: Có 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 18/6/2025 Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh Ninh Bình; có mặt.

2. Q2 sinh năm 1971 tại Trung Quốc; nơi ĐKHKTT: số 090, thôn PS, Ủy hội thôn MB, thị trấn Đ.A, huyện BL, tỉnh QT, Trung Quốc; trình độ văn hoá: 02/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; tôn giáo: Không; quốc tịch: Trung Quốc (không có thân phận ngoại giao); dân tộc: Hán; con ông: Q, con bà: không xác định; vợ: L, sinh năm 1978; con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 18/6/2025 Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh Ninh Bình; có mặt.

* Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Hoàng Đức Anh và ông Nguyễn Thế Anh - Là Luật sư thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội; nơi làm việc Công ty Luật TNHH Indo-Pacific Legal; có mặt.

* Bị hại:

1. Công ty TNHH Thương mại tổng hợp TT.

Địa chỉ trụ sở: Số 82 đường Châu Cầu, tổ 4, phường MK, thành phố PL, tỉnh Hà Nam (nay là tổ 4B, phường PL, tỉnh Ninh Bình).

Người đại diện theo pháp luật: Bà Đinh Thị Kim T; chức danh: Chủ tịch Công ty kiêm Giám đốc; có đơn xin xử vắng mặt.

2. Bà Đinh Thị Kim T, sinh năm 1970; trú tại: Số 82 đường Châu Cầu, tổ 4, phường MK, thành phố PL, tỉnh Hà Nam (nay là tổ 4B, phường PL, tỉnh Ninh Bình); có đơn xin xử vắng mặt.

* Người phiên dịch: Bà Quách Thị Ngọc Anh, sinh năm 1980; địa chỉ: Số nhà 10, ngõ 217, thôn Cổ Loan Trung 2, đường Nguyễn Hữu An, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình; nơi làm việc: Công ty TNHH Chia Chen; địa chỉ nơi làm việc: Khu công nghiệp Khánh Phú, xã Khánh Phú, tỉnh Ninh Bình; có mặt.

* Người làm chứng: Ông Trần Mạnh T, sinh năm 1965; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 21/10/2024, bà Đinh Thị Kim T là Giám đốc Công ty TNHH thương mại tổng hợp TT cất số tiền 96.562.000 đồng tiền thu bán hàng các ngày 18, 19, 21/10/2024 và 10.000.000 đồng tiền cá nhân của bà T ở két sắt kê trong văn phòng Công ty TNHH thương mại tổng hợp TT. Khoảng 02 giờ ngày 22/10/2024, Q1 và Q2 đột nhập vào khuôn viên Công ty TNHH thương mại tổng hợp TT thuộc tổ dân phố Trần Phú, phường Châu Sơn, thành phố Phủ Lý (nay là phường Châu Sơn, tỉnh Ninh Bình) phá khóa cửa văn phòng của Công ty, vào trong văn phòng lục, tìm tài sản. Sau đó Q1 và Q2 khiêng chiếc két sắt của Công ty để trong văn phòng ra khu vực vườn cạnh bờ ao của Công ty TNHH thương mại tổng hợp TT cậy, phá cánh cửa két sắt lấy toàn bộ số tiền có trong két gồm 96.562.000 đồng là tiền thu bán hàng của công ty và 10.000.000 đồng là tiền của cá nhân bà T. Đến khoảng 06 giờ 10 phút ngày 22/10/2024, ông Trần Mạnh T (chồng bà T) đến Công ty phát hiện văn phòng của Công ty đã bị kẻ gian cắt khoá cửa lấy trộm 01 két sắt mang ra vườn giáp bờ ao trong khuôn viên của Công ty phá cánh cửa két sắt lấy toàn bộ số tiền có trong két.

*Vật chứng thu giữ: 01 két sắt KT (88x55,5x40)cm; 01 khóa màu đồng nhãn hiệu Việt Tiệp KT(7,5x5x0,8); 01 thanh kim loại V6 dài 200cm một đầu hàn với thanh kim loại tròn dài 200cm đường kính 1cm; 04 túi Clear KT (36x26) cm và 01 túi đựng hồ sơ bằng giấy màu trắng KT (33x25)cm được niêm phong trong hộp giấy có KT (3,25x27,5x24,5); 01 cốc thủy tinh không màu, có quai cao 10cm, đường kính miệng cốc 8,5cm đường kính đáy cốc 5,5cm trên thân cốc có dòng chữ "Herbalife" được niêm phong trong hộp giấy KT (15x15x19,3)cm; 01 dây internet màu đen dài 1760cm; 05 sợi tóc có chân của bà Đinh Thị Kim Thanh.

Ngày 31/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình) ra Quyết định trưng cầu giám định số 2285/QĐ-ĐCSHS gửi Viện pháp y Quốc gia giám định ADN trên mẫu là chiếc cốc thủy tinh không màu có quai cao 10cm, đường kính miệng cốc 8,5cm đường kính đáy cốc 5,5cm trên thân cốc có dòng chữ "Herbalife" và so sánh với ADN trên mẫu 05 sợi tóc có chân thu của bà Đinh Thị Kim T.

Tại Bản kết luận giám định ADN số 601/24/KLGĐADN-PYQG ngày 05/11/2024 của Viện pháp y Quốc gia kết luận:

“- ADN thu trên chiếc cốc thủy tinh gửi giám định là của nam giới.

- ADN thu trên chiếc cốc thủy tinh gửi giám định không trùng với ADN của bà Đinh Thị Kim T trên các locus STR đã so sánh”.

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phủ Lý đã thu giữ mẫu vật gồm:

- 05 sợi tóc có chân của Q2, sinh năm 1971 ở tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.

- 05 sợi tóc có chân của Q1, sinh năm 1963 ở tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.

Tại Bản kết luận giám định ADN số 17/25/KLGĐADN-PYQG ngày 12/12/2024 của Viện pháp y Quốc gia kết luận: “ADN thu từ chiếc cốc thủy tinh gửi giám định (theo Kết luận giám định ADN số 601/24/KLGĐADN-PYQG ngày 05/11/2024 của Viện pháp y Quốc gia) có hiện diện đầy đủ các alen của Q1 và Q2 trên tất cả các locus STR đã so sánh”.

Ngày 20/01/2025, Viện pháp y Quốc gia có văn bản số 47/PYQG-YSH về việc giải thích Kết luận giám định ADN như sau:

“- ADN thu trên chiếc cốc thủy tinh gửi giám định theo Quyết định trưng cầu số 2285/QĐ-ĐCSHS ngày 31/10/2024 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam có hiện diện ADN của hai nam giới (Kết luận ADN số 601/24/KLGĐADN-PYQG ngày 05/11/2024).

- ADN của Q1 hay Q2 gửi giám định theo Quyết định trưng cầu số 2578/QĐ-ĐCSHS ngày 10/12/2024 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam có ADN trùng khớp với ADN của cả hai nam giới thu trên chiếc cốc thủy tinh gửi giám định theo Quyết định trưng cầu số 2285/QĐ-ĐCSHS ngày 31/10/2024 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (Kết luận ADN số 17/25/KLGĐADN-PYQG ngày 12/12/2024)”.

Tại Kết luận định giá tài sản số 16/KL-HĐĐGTS ngày 25/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Phủ Lý, kết luận: “Phần hư hỏng 01 chiếc két sắt nhãn hiệu Hòa Phát, chất liệu kim loại, màu sơn xanh kích thước (88x55,5x40) cm đã qua sử dụng, thời điểm định giá 02/2025 là 1.200.000 đồng”.

Khai thác, trích xuất hình ảnh Camera an ninh tại Công ty TNHH thương mại tổng hợp Tân Thanh thể hiện:

“- Ghi nhận thời gian hiển thị trên hệ thống Camera chậm 12 giờ 15 phút so với thực tế:

- Mắt Camera lắp ở vị trí từ trong kho của Công ty soi ra cổng, soi qua dãy nhà văn phòng của Công ty. Hình ảnh trên Video có ký hiệu ở góc dưới bên phải là “Camera 02” ghi nhận từ khoảng 13 giờ 58 phút 55 giây đến 14 giờ 24 phút 06 giây ngày 21/10/2024 hiển thị trong Video có xuất hiện hình ảnh 02 người nghi là nam giới, một người mặc quần áo sáng màu, một người còn lại mặc áo tối màu, quần sáng màu đi lại quanh sân sau đó có biểu hiện cậy cửa. Người mặc áo tối màu đi vào trong văn phòng, người mặc áo sáng màu đứng ngoài, sau đó 02 người bê một vật hình khối nghi là két sắt từ trong phòng đi ra sân, rồi đi ra tầm quay của Camera.

- Mắt Camera lắp trong phòng văn phòng quay phòng văn phòng và cửa đi vào phòng giám đốc. Hình ảnh trên Video có ký hiệu ở góc dưới bên phải là “Camera 05” ghi nhận từ 14 giờ 13 phút 16 giây đến 14 giờ 17 phút 23 giây ngày 21/10/2024 hiển thị trong Video có xuất hiện hình ảnh người nghi là nam giới mặc áo tối màu quần sáng màu cầm đèn pin đi từ phòng giám đốc sang văn phòng lục lọi tìm đồ rồi lại đi sang phòng giám đốc”.

Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS-KV5 ngày 07 tháng 7 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã truy tố Q1 và Q2 cùng về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình trình bày luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố Q1 và Q2 theo nội dung bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố bị cáo Q1 và Q2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Đề nghị xử phạt các bị cáo Q1 và Q2 mỗi bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt của bản án số 91/2025/HS-ST ngày 18/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình là 24 (hai mươi bốn) tháng tù, buộc mỗi bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án từ 48 đến 54 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

+ Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 két sắt KT (88x55,5x40)cm; 01 khóa màu đồng nhãn hiệu Việt Tiệp KT(7,5x5x0,8); 01 thanh kim loại V6 dài 200cm một đầu hàn với thanh kim loại tròn dài 200cm đường kính 1cm; 04 túi Clear KT (36x26) cm và 01 túi đựng hồ sơ bằng giấy màu trắng KT (33x25)cm được niêm phong trong hộp giấy có KT (3,25x27,5x24,5); 01 cốc thủy tinh không màu, có quai cao 10cm, đường kính miệng cốc 8,5cm đường kính đáy cốc 5,5cm trên thân cốc có dòng chữ "Herbalife" được niêm phong trong hộp giấy KT (15x15x19,3)cm; 01 dây internet màu đen dài 1760cm.

+ Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

- Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, các bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Người bào chữa cho các bị cáo: Nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ áp dụng đối với cả hai bị cáo. Tuy nhiên, cả hai bị cáo đều là người miền núi, do lòng tham nhất thời, hiểu biết có phần hạn chế, bị cáo Q2 có trình độ thấp, bị cáo Q1 không được đi học. Đề nghị áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự và xử các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, cụ thể là dưới 02 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người tham gia tố tụng là bị hại, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

Về tội danh: Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đều không thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân. Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ ngày 22/10/2024, Q1 và Q2 đã phá khóa cửa, vào văn phòng Công ty TNHH thương mại tổng hợp Tân Thanh thuộc tổ dân phố Trần Phú, phường Châu Sơn, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (nay là phường Châu Sơn, tỉnh Ninh Bình) trộm cắp một két sắt trong đó có số tiền 96.562.000 đồng tiền hàng của công ty TNHH thương mại tổng hợp Tân Thanh và 10.000.000 đồng tiền cá nhân của bà Đinh Thị Kim Thanh. Tổng số tiền Q1 và Q2 chiếm đoạt là 106.562.000 đồng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Q1 và Q2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với pháp luật.

Về vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy: Các bị cáo cùng bàn bạc, thống nhất và cùng thực hiện hành vi phạm tội, nên đều có vai trò ngang nhau trong vụ án.

Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Về nhân thân: Cả hai bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, các bị cáo đều bị Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình) kết tội “Trộm cắp tài sản” mà các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội sau khi thực hiện hành vi phạm tội của lần xét xử này.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, các bị cáo đã ủy quyền cho người bào chữa thay các bị cáo bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho bị hại, bị hại đã có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về hình phạt:

Hình phạt chính: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác là khách thể được luật hình sự bảo vệ. Các bị cáo là người có đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo cần tuyên mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo thực hiện, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ cải tạo, giáo dục đối với chính các bị cáo và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm chung trong cộng đồng.

Tại thời điểm xét xử, các bị cáo đang phải chấp hành hình phạt của bản án số 91/2025/HS-ST ngày 18/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình), nên cần tổng hợp hình phạt của bản án lần này với hình phạt của bản án số 91/2025/HS-ST, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Trước khi xét xử, các bị cáo đã ủy quyền cho người bào chữa cho các bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, đến nay bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 két sắt KT (88x55,5x40)cm; 01 khóa màu đồng nhãn hiệu Việt Tiệp KT(7,5x5x0,8)cm; 01 thanh kim loại V6 dài 200cm một đầu hàn với thanh kim loại tròn dài 200cm đường kính 1cm; 04 túi Clear KT (36x26) cm và 01 túi đựng hồ sơ bằng giấy màu trắng KT (33x25)cm được niêm phong trong hộp giấy có KT (3,25x27,5x24,5); 01 cốc thủy tinh không màu, có quai cao 10cm, đường kính miệng cốc 8,5cm đường kính đáy cốc 5,5cm trên thân cốc có dòng chữ "Herbalife"; 01 dây internet màu đen dài 1760cm là tài sản hợp pháp của Công ty TNHH tổng hợp thương mại Tân Thanh đến nay không còn giá trị sử dụng, mặt khác đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH tổng hợp thương mại Tân Thanh có yêu cầu không nhận lại, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Q1 là người cao tuổi nhưng không có đơn xin miễn án phí, nên các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 50; Điều 47; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ các Điều 106; 136; 331; 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Tuyên bố: Các bị cáo Q1, Q2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2/ Xử phạt:

- Bị cáo Q1 24 (hai mươi bốn) tháng tù, tổng hợp với hình phạt của bản án số 91/2025/HS-ST ngày 18/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình) là 24 tháng tù, buộc bị cáo Q1 phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 48 (bốn mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/11/2024.

- Bị cáo Q2 24 (hai mươi bốn) tháng tù, tổng hợp với hình phạt của bản án số 91/2025/HS-ST ngày 18/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Ninh Bình) là 24 tháng tù, buộc bị cáo Q2 phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 48 (bốn mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/11/2024.

3/ Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 ổ khóa đồng nhãn hiệu Việt Tiệp KT(7,5x5x0,8)cm có chốt ngang đang trong tình trạng khóa; 01 két sắt nhãn hiệu Hòa Phát chất liệu kim loại, sơn màu xanh KT (88x55,5x40)cm, cửa két sắt bị hư hỏng, thân két sắt có một số điểm bị bong tróc sơn; 01 thanh kim loại V6 dài 200cm một đầu hàn với thanh kim loại tròn dài 200cm đường kính 1cm; 04 túi Clear KT (36x26) cm và 01 túi đựng hồ sơ bằng giấy màu trắng KT (33x25)cm được niêm phong trong hộp giấy có KT (32,5x27,5x24,5) cm; 01 cốc thủy tinh không màu, có quai cao 10cm, đường kính miệng cốc 8,5cm đường kính đáy cốc 5,5cm trên thân cốc có dòng chữ "Herbalife" được niêm phong trong hộp giấy có KT (15x15x19,3)cm; 01 dây internet màu đen dài 1760cm.

(Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 10/7/2025 giữa Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Ninh Bình với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Ninh Bình).

4/ Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Q1 và Q2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ