- Tranh chấp gì? án hình sự — "K Đoan trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo K’Đ1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2025/HS-ST Ngày : 12-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Minh
Bà Lê Thị Sáu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Vương- Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 4- Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thu Trang- Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4- Lâm Đồng
xét xử sơ thẩm, công khai, theo thủ tục thông thường vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/HSST ngày 14 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: K’Đ1; tên gọi khác: Không; sinh ngày 15/12/2005. Nơi đăng ký
HKTT và chỗ ở: thôn 15, xã Lộc T, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (nay là thôn 15, xã BL 3, tỉnh Lâm Đồng); nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Cơ Ho; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông K’Bi Ơ, sinh năm 1957 và bà Ka T2, sinh năm 1960; Vợ, con: chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: Tại bản án số 37/2021/HSST ngày 25/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xử phạt bị cáo K’Đ1 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tại bản án số 42/2021/HS-ST ngày 08/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xử phạt bị cáo K’Đ1 02 năm tù về tội “Hủy hoại rừng”; Tại bản án số 59/2024/HS-ST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt bị cáo K’Đ1 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/5/2025 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Phân
trại tạm giam khu vực số 7 (Bảo Lâm 1)- Trại tạm giam số 1- Công an tỉnh Lâm Đồng.
Bị cáo K’Đ1 có mặt tại phiên tòa.
+ Người bào chữa cho bị cáo K’Đ1: Bà Nguyễn Ngọc Hoàng Gi- Là trợ giúp
viên pháp lý của Trung Tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lâm Đồng. Địa chỉ Chi nhánh số 01: Số 31 Lê Hồng Phong, Phường 1 Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. (bà Giang có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
+ Người bị hại: Anh K’C2, sinh năm 2002 (có mặt). Địa chỉ: Thôn 1, xã Bảo Lâm
3, tỉnh Lâm Đồng (Địa chỉ cũ: Thôn 1, xã Lộc N, huyện B, tỉnh Lâm Đồng).
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh K’ Sin C3, sinh năm 2005 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn 9, xã Bảo Lâm 3, tỉnh Lâm Đồng (Địa chỉ cũ: Thôn 9, xã Lộc N, huyện B, tỉnh Lâm Đồng).
+ Chị Ka U, sinh năm 1979 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn 15, xã BL 3, tỉnh Lâm Đồng (Địa chỉ cũ: Thôn 15, xã Lộc T, huyện B, tỉnh Lâm Đồng).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 08/3/2025, anh K’C2, sinh ngày: 11/01/2002,
NKTT: thôn 1, xã Lộc N, huyện B (nay là xã Bảo Lâm 3, tỉnh Lâm Đồng điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 49K1-552.15 (trong cốp xe có 02 cái cờ lê, 01 chụp tháo bugi, 01 tua vít bằng kim loại) đi từ nhà đến vườn tại thôn 1, xã Lộc N, huyện B (nay là xã Bảo Lâm 3), tỉnh Lâm Đồng để xịt thuốc. Khi đến nơi, anh K’C2 dựng xe ở gần hàng ranh của vườn, tắt máy xe nhưng không rút chìa khoá ra khỏi ổ khoá rồi vào vườn xịt thuốc. Thời điểm này, K’Đ1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Lifan Super Dream, biển số 49T2-5208 một mình đi vào vườn của gia đình tại thôn 10, xã Lộc N, huyện B để làm vườn. Trên đường vào vườn, khi đi tới đoạn đường thuộc thôn 1, xã Lộc Nam K’Đ1 thấy ở bên phải đường theo hướng di chuyển có xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 49K1-552.15 của anh K’C2, không có người trông coi nên đã nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô biển số 49K1-552.15. K’Đ1 điều khiển xe mô tô biển số 49T2-5208 đi qua vị trí xe mô tô biển số 49K1-552.15 một đoạn rồi chạy xe vào bên trong vườn cà phê của một hộ dân để giấu xe. Sau đó K’Đ1 đi bộ ngược lại vị trí xe mô tô biển số 49K1-552.15 rồi mở khoá nổ máy xe, điều khiển xe di chuyển ra hướng thôn 1, xã Lộc N, huyện B (nay là xã Bảo Lâm 3). K’Đ1 điều khiển xe mô tô biển số 49K1-552.15 tới vườn cà phê của người dân tại thôn 1, xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm (nay là xã Bảo Lâm 3) thì dừng lại mở cốp xe lấy cờ lê số 10 tháo biển số xe mô tô rồi vứt biển số tại vườn cà phê. Tiếp đó, K’Đ1 sử dụng khò lửa màu xanh có sẵn ở trong bịch nilong treo ở gacbaga trên xe, sau đó dùng bật lửa mồi khò lửa, rồi dùng khò lửa nung chảy tem xe ở hai bên hông, mặt nạ, chắn bùn trước để thay đổi nhận dạng của xe. Sau đó, K’Đ1 điều khiển xe tới đập nước tại thôn 4, xã Lộc N, huyện B vứt khò lửa xuống đập rồi đi đến nhà K’Sin Che (tên thường gọi là K’Lộc) tại thôn 9, xã Lộc N, huyện B (nay là xã Bảo Lâm 3) chơi. Sau khi xịt thuốc xong, anh K’C2 quay lại vị trí xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 49K1-552.15 thì phát hiện bị mất xe nên đã trình báo cơ quan công an.
Tại Kết luận định giá số 07/KL-HĐĐGTS ngày 28/3/2025 của Hội đồng định
giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bảo Lâm kết luận tổng giá trị thiệt hại các tài sản nêu trên có giá 11.160.000 đồng.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị can đã thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:
+ 01 xe mô tô 02 bánh, nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, màu trắng xanh, đã qua
sử dụng, không có biển số, xe không có chắn bùn hai bên; số máy: G304E722922, số khung: 0510JY694798, xe mua năm 2018.
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Super Dream, biển số 49T2-5208, số khung không có,
số máy: VKV1P50FMG-30102178.
+ 01 cờ lê số 17 bằng kim loại, cờ lê có 01 đầu mở và 01 đầu tròn, cờ lê dài 21cm,
trên thân cờ lê có dòng chữ YETI USA Standard CHROME VANADIUM.
+ 01 cờ lê số 10 bằng kim loại, dài 14 cm, cờ lê có 01 đầu mở và 01 đầu tròn,
trên thân cờ lê có dòng chữ YFTI USA Standard CHROME VANADIUM.
+ 01 chụp tháo bugi xe máy bằng kim loại dài 09cm, 01 đầu hình lục giác và 01
đầu tròn, trên thân chụp tháo bugi có các lỗ tròn và dẹ.
+ 01 tua vít bằng kim loại có chiều dài 10cm, một đầu dẹt, tay cầm của tua vít
bằng nhựa mà đỏ có dòng chữ JAPAN TECH.
+ 01 biển số, đã qua sử dụng, số 49K1-552.15, dài 19cm, rộng 14cm.
Về trách nhiệm dân sự: Anh K’C2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về
trách nhiệm dân sự.
Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKS-KV4 ngày 11 tháng 7 năm 2025 của Viện kiểm
sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo K’Đ1 về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Lâm Đồng giữ quyền công tố luận
tội và tranh luận. Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, đề nghị Đề nghị Hội đồng xem xét như sau:
Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo K’Đ1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo K’Đ1 từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 5 năm 2025.
Đối với anh K’Sin Che: Không tham gia, không được hưởng lợi ích từ việc K’Đ1
trộm cắp tài sản, khi K’Đ1 đi xe mô tô biển kiểm soát 49K1-552.15 đến nhà K’Sin Che thì K’Sin Che không hứa hẹn với K’Đ1 về việc chứa chấp hay tiêu thụ xe mô tô biển kiểm soát 49K1-552.15, do đó không có căn cứ để xử lý đối với K’Sin Che.
Đối với chị Ka U: K’Đ1 tự ý lấy xe mô tô biển số 49T2-5208 của chị Ka U để đi
lại và chị Ka U không biết K’Đ1 sử dụng xe mô tô vào mục đích trộm cắp tài sản nên không có căn cứ để xử lý đối với chị Ka U.
Hình phạt bổ sung: Không
Về trách nhiệm dân sự: Anh K’C2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về
phần dân sự.
Về xử lý vật chứng:
+ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã tạm giữ và đã trả lại cho
chủ sở hữu gồm có:
01 xe mô tô 02 bánh, nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng xanh, không có biển
số, số máy: G304E722922, số khung: 0510JY694798; 01 biển số 49K1-552.15, dài 19cm, rộng 14cm; 01 cờ lê số 17 bằng kim loại có 01 đầu mở và 01 đầu tròn, dài 21cm; 01 cờ lê số 10 bằng kim loại, dài 14 cm, có 01 đầu mở và 01 đầu tròn; 01 tua vít bằng kim loại có chiều dài 10 cm, một đầu dẹt, tay cầm của tua vít bằng nhựa mà đỏ; 01 chụp tháo bugi xe máy bằng kim loại dài 09 cm có 01 đầu hình lục giác và 01 đầu tròn, trả lại cho chủ sở hữu là anh K’C2 xong nên không đề cập đến.
01 xe mô tô nhãn hiệu Lifan Super Dream, biển số 49T2-5208, số khung không
có, số máy: VKV1P50FMG-30102178 đã trả lại cho chị Ka U xong nên không đề cập đến.
Đối với khò lửa được bị cáo K’Đ1 sử dụng để nung chảy tem xe mô tô biển số
49K1-552.15, Cơ quan điều tra đã đưa K’Đ1 đi truy tìm nhưng không thu giữ được do K’Đ1 vứt xuống đập nước nên không đề cập đến.
Đối với 01 bật lửa màu đỏ dài 7,5cm, rộng 02cm, trên thân bật lửa có dòng chữ
HOA VIỆT, có hình trái táo màu vàng và thần tài của bị cáo K’Đ1. Xét không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.
Về án phí: Buộc bị cáo K’Đ1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
- Bị cáo K’Đ1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Bản cáo trạng
truy tố của Viện kiểm sát nhân khu vực 4- Lâm Đồng, thống nhất bản luận tội của Viện kiểm sát và không tranh luận gì thêm.
- Người bào chữa cho bị cáo K’Đ1 vắng mặt tại phiên tòa, có bài luận cứ bào
chữa cho bị cáo như sau: Thống nhất với tội danh Viện kiểm sát truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tất cả các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về với gia đình, làm người có ích cho xã hội.
- Người bị hại anh K’ Chuồng khai trùng khớp với lời khai của bị cáo, đã nhận
lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Chủ tọa công bố lời khai của K’Sin Che, bà Ka U.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nhận
thức được hành vi phạm tội là sai, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm (nay là VKSND khu vực 4- Lâm Đồng), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi của bị cáo K’Đ1 thể hiện:
Bị cáo K’Đ1 là đối tượng đang trú tại địa bàn thôn 15, xã BL 3, tỉnh Lâm Đồng
(địa chỉ cũ: thôn 15, xã Lộc T, huyện B, tỉnh Lâm Đồng). Bị cáo có nhân thân không tốt, từng 02 lần bị kết án và buộc chấp hành hình phạt tù về tội trộm cắp tài sản, 01 lần bị kết án và buộc chấp hành hình phạt tù về tội hủy hoại rừng. Tuy nhiên bản thân bị cáo K’Đ1 không sửa chữa để trở thành người có ích cho xã hội mà tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cụ thể ngày 08/3/2025, lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu là anh K’C2, bị cáo K’ Đoan đã lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh K’C2 tại thôn 1, xã Bảo Lâm 3, tỉnh Lâm Đồng (địa chỉ cũ: Thôn 1, xã Lộc N, huyện B, tỉnh Lâm Đồng). Tài sản bị cáo K’Đ1 chiếm đoạt của anh K’C2 gồm có: 01 xe mô tô 02 bánh, nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng xanh, không có biển số, số máy: G304E722922, số khung: 0510JY694798; 01 biển số 49K1-552.15, dài 19cm, rộng 14cm; 01 cờ lê số 17 bằng kim loại có 01 đầu mở và 01 đầu tròn, dài 21cm; 01 cờ lê số 10 bằng kim loại, dài 14 cm, có 01 đầu mở và 01 đầu tròn; 01 tua vít bằng kim loại có chiều dài 10 cm, một đầu dẹt, tay cầm của tua vít bằng nhựa mà đỏ; 01 chụp tháo bugi xe máy bằng kim loại dài 09 cm có 01 đầu hình lục giác và 01 đầu tròn.
Tại bản kết luận định giá số 07/KL-HĐĐGTS ngày 28/3/2025 của Hội đồng định
giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bảo Lâm kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của các tài sản nêu trên có giá 11.160.000 đồng (kèm theo bảng kê giá trị thiệt hại).
Do đó, hành vi của bị cáo K’Đ1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”,
tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, Cáo trạng truy tố Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Lâm Đồng đối với bị cáo K’Đ1 là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tài
sản hợp pháp của công dân, thể hiện sự coi thường pháp luật, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật mà vẫn thực hiện, thể hiện sự liều lĩnh, gây dư luận xấu về tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo có nhân thân không tốt, từng bị kết án và buộc chấp hành án phạt tù (mặc dù đã được xóa án tích) nhưng vẫn tiếp tục phạm tội, chứng tỏ ý thứa chấp hành pháp luật và tự sửa chữa bản thân không tốt. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng cho bị cáo K’Đ1 một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, đủ để răn đe, cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại
phiên tòa bị cáo K’Đ1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về nhân thân: Tại bản án số 37/2021/HS-ST ngày 25/6/2021 của Tòa án nhân
dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xử phạt bị cáo K’Đ1 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tại bản án số 42/2021/HS-ST ngày 08/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xử phạt bị cáo K’Đ1 02 năm tù về tội “Hủy hoại rừng”; Tại bản án số 59/2024/HS-ST ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt bị cáo K’Đ1 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo làm vườn, không có thu nhập ổn định nên xem xét
không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo K’Đ1.
Từ những căn cứ trên, xét thấy cần cách ly bị cáo K’Đ1 ra khỏi xã hội một thời
gian để bị cáo sửa chữa, cải tạo tốt để trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên về mức hình phạt do Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Lâm Đồng đối với bị cáo K’ Đoan từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù, Hội đồng xét xử xét thấy là nghiêm khắc so với hành vi phạm tội, mức độ thiệt hại mà bị cáo K’ Đoan gây ra. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc trên cơ sở toàn diện để quyết định mức hình phạt phù hợp, tương xứng đối với bị cáo K’ Đoan.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 589
Bộ luật dân sự 2015:
Anh K’C2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về phần dân sự nên không
đề cập đến.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng
hình sự. Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng đã tạm giữ và trả lại toàn bộ tài sản cho cho chủ sở hữu hợp pháp gồm có:
Trả lại cho anh K’C2 gồm có: 01 xe mô tô 02 bánh, nhãn hiệu Yamaha Exciter,
màu trắng xanh, không có biển số, số máy: G304E722922, số khung: 0510JY694798; 01 biển số 49K1-552.15, dài 19cm, rộng 14cm; 01 cờ lê số 17 bằng kim loại có 01 đầu mở và 01 đầu tròn, dài 21cm; 01 cờ lê số 10 bằng kim loại, dài 14 cm, có 01 đầu mở và 01 đầu tròn; 01 tua vít bằng kim loại có chiều dài 10cm, một đầu dẹt, tay cầm của tua vít bằng nhựa mà đỏ; 01 chụp tháo bugi xe máy bằng kim loại dài 09cm có 01 đầu hình lục giác và 01 đầu tròn. Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Trả lại cho chị Ka U 01 xe mô tô nhãn hiệu Lifan Super Dream, biển số 49T2-
5208, số khung không có, số máy: VKV1P50FMG. Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Đối với khò lửa được K’Đ1 sử dụng để nung chảy tem xe mô tô biển số 49K1-
552.15, Cơ quan điều tra đã đưa K’Đ1 đi truy tìm nhưng không thu giữ được do K’Đ1 vứt xuống đập nước. Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Đối với 01 bật lửa màu đỏ dài 7,5cm, rộng 02cm, trên thân bật lửa có dòng chữ
HOA VIỆT, có hình trái táo màu vàng và thần tài của K’Đ1. Xét không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 147 Bộ luật tố
tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về “Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”. Buộc bị cáo K’Đ1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo K’Đ1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
2015, xử phạt bị cáo K’Đ1 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 5 năm 2025.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 01 bật lửa màu đỏ dài 7,5cm, rộng
02cm, trên thân bật lửa có dòng chữ HOA VIỆT, có hình trái táo màu vàng và thần tài của bị cáo K’Đ1.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo K’Đ1 phải chịu 200.000 đồng án phí
hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm (người liên quan chỉ được kháng cáo phần có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2015.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND khu vực 4- Lâm Đồng; - Công an tỉnh Lâm Đồng; - Phân trại tạm giam khu vực số 7 (Bảo Lâm 1)- Trại tạm giam số 1- Công an tỉnh Lâm Đồng; - Bị cáo, những người tham gia tố tụng; - THADS tỉnh Lâm Đồng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Thủy |