vanban.org

Bản án 28/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 15 - An Giang, tỉnh An Giang Tuyên án 24/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Bé L phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Thị Bé L 04 (bốn) năm tù. Tổng hợp hình phạt của Bản án này với Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Bị cáo Trần Thị Bé L phải chịu hình phạt chung là 16 (mười sáu) năm 03(ba) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "cướp - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thị Bé L phạm tội “Cướp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HS-ST
Ngày 24 tháng 4 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phong Phi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Thi và bà Dương Thị Thuý Duy

- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Bình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Vĩnh Tín - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 49/2025/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Thị Bé L, sinh năm: 1995 tại huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Khóm 3, phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; Cha: Không rõ, Mẹ: Trần Thị Mỹ Hạnh (đã chết); chồng: Lê Thành Liêm, sinh năm 1985 và có 07 con.

Tiền sự: Không có.

Tiền án:

Ngày 03/10/2018, L bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Bản án số 20/2018/HSST).

Ngày 22/11/2018, L bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và 01 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Bản án số 82/2018/HS-ST).

Bị cáo đang chấp hành hình phạt tù từ ngày 19/10/2023 cho đến nay tại Trại giam Cái Tàu – Bộ Công an (bị cáo có đơn xin xử vắng mặt).

Bị hại: Ông Huỳnh Văn Phong, sinh năm 1990; cư trú: Khóm Hà Bao 1, thị trấn Đa Phước, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Ông Tìa Thành, sinh năm 1990; cư trú: Ấp Thiện Tuế, xã An Hảo, thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)

Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Bưng, sinh năm 1966; cư trú: Khóm Phước Thọ, thị trấn Đa Phước, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 05/11/2019 Huỳnh Văn Phong, sinh năm 1990, cư trú: ấp Hà Bao 1, xã Đa Phước (nay khóm Hà Bao 1, thị trấn Đa Phước), huyện An Phú, tỉnh An Giang điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius, biển số 67H1-122.79 chở Trần Thị Bé L đến Nhà nghỉ 333 thuộc ấp Phước Thọ, xã Đa Phước (nay là khóm Phước Thọ, thị trấn Đa Phước), huyện An Phú, tỉnh An Giang của ông Nguyễn Văn Bưng, sinh năm 1966 là chủ sở hữu. Tại đây, ông Phong và L thuê căn phòng số 3 để cùng L để nghỉ. Khi vào phòng, L lấy ra 01 viên thuốc ngủ (loại viên nén, 03 khía) mang theo trong người đưa cho Phong và nói dối là thuốc trị nhức đầu và mệt (do trước đó, Phong nói bị nhức đầu và mệt), Phong tưởng thật nên nhận và tự uống hết 01 viên thuốc ngủ do L đưa.

Khoảng 22 giờ 20 phút cùng ngày, thấy Phong ngủ mê do uống viên thuốc ngủ, L lấy 01 điện thoại di động Iphone 6 màu trắng và chìa khóa xe mô tô biển số 67H1-122.79 của Phong rồi đi ra khỏi phòng. Đến quầy tiếp tân gặp ông Bưng, L nói cần đi ra khỏi nhà nghỉ để mua thức ăn một lúc sẽ trở lại. Nghe vậy, ông Bưng đồng ý mở cửa nhà nghỉ, L điều khiển xe mô tô biển số 67H1 - T 122.79 chạy đi; trên đường đi, L kiểm tra trong cốp xe có 01 ví da không có tài sản có giá trị, ném bỏ ví trên đường rồi điều khiển xe đi tiếp. Sau đó, L bán xe mô tô biển số 67H1-122.79 cho 01 người nam (không rõ thông tin lai lịch, địa chỉ) với giá 4.000.000 đến 5.000.000 đồng, rồi lấy tiền tiêu xài cá nhân và bỏ trốn; còn điện thoại Iphone 6 L cho Dương Văn Cường cư trú: phường Vĩnh Ngươn, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang để sử dụng.

Vật chứng vụ án: 01 (một) xe mô tô Yamaha Sirius, biển số 67H1 - T 122.79, màu sơn đỏ - đen, đã qua sử dụng; 01 cây dao cán nhựa dài 26cm, đã qua sử dụng; 01 khay nhựa màu trắng ba ngăn, đã qua sử dụng; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy do Công an huyện Tịnh Biên (nay là Công an thị xã Tịnh Biên), tỉnh An Giang cung ngày 18/4/2022 cho ông Tìa Thành.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 1227/KL-ĐGTSTTHS ngày 12/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện An Phú, tỉnh An Giang kết luận: Xe mô tô Yamaha Sirius, biển số 67H1 - T 122.79 trị giá 19.950.000 đồng; điện thoại di động Iphone 6, trị giá 2.850.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 22.800.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 12/CT-VKSAP- HS ngày 25 tháng 02 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang đã truy tố Trần Thị Bé L về tội “Cướp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử công bố lời khai bị cáo, bị hại và người liên qua để xác định hành vi phạm tội của bị cáo

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng.

Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, 56 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo mức án từ 04 đến 5 năm tù giam.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự:

Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6, bị hại không yêu cầu bồi thường nên đề nghị không xem xét giải quyết.

Đối với 01 (một) xe mô tô Yamaha Sirius, biển số 67H1 - T 122.79, bị hại tự nguyện giao xe cho ông Tìa Thành tiếp tục sử dụng và yêu cầu bị cáo bồi thường 9.000.000 đồng nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu bồi thường và công nhận sự tự nguyện của ông Phong giao xe cho ông Tìa Thành tiếp tục sử dụng.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho ông Tìa Thành 01 (một) xe mô tô Yamaha Sirius, biển số 67H1 - T 122.79, màu sơn đỏ - đen, đã qua sử dụng; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy do Công an huyện Tịnh Biên (nay là Công an thị xã Tịnh Biên), tỉnh An Giang cung ngày 18/4/2022 cho ông Tìa Thành.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.Trong lời nói sau cùng bị cáo xin hội

đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không rõ lý do. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án. Xét, những người tham gia tố tụng vắng mặt đều đã có lời khai tại Cơ quan Điều tra được thể hiện trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử; căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung: Quá trình điều tra bị cáo Trần Thị Bé L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Ngày 05/11/2019, cần tiền tiêu xài cá nhân, L chuẩn bị trước 01 viên thuốc ngủ 03 khía mang theo trong người và rủ ông Huỳnh Văn Phong vào Nhà nghỉ 333. Tại nhà nghỉ, L lấy ra 01 viên thuốc ngủ 03 khía và nói dối là thuốc trị mệt mỏi, nhức đầu để ông Phong tin tưởng nhận uống hết viên thuốc. Khoảng 15 – 20 phút sau khi uống viên thuốc, thấy ông Phong ngủ mê L chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 67H1 - T 122.79 và 01 điện thoại di động Iphone 6. Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn dấu hiệu khách quan của tội Cướp tài sản.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác, trị giá tài sản mà bị cáo chiếm đoạt được xác định là 22.800.000 đồng nên đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét về nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 02 tiền án chưa được xoá án tích nên bị áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải, thuộc thành phần lao động nghèo, học lực thấp nên hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động, bị cáo đã liên tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Cụ thể:

Trước ngày 05/11/2019, L bị xử phạt:

- Ngày 03/10/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Bản án số 20/2018/HSST).

- Ngày 22/11/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và 01 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Bản án số 82/2018/HS-ST).

- Ngày 15/10/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên (nay là thị xã Tịnh Biên), tỉnh An Giang xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Bản án số 36/2019/HS-ST).

Ngoài ra, sau ngày 05/11/2019, bị cáo còn bị xử phạt và đang chấp hành hình phạt tù là 12 năm 03 tháng, cụ thể:

- Ngày 12/3/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 04 năm tù về tội Cướp tài sản (Bản án số 14/2020/HS-ST).

- Ngày 29/3/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 29/2024/HS-ST).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Do bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố Châu, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 29/3/2024 và tổng hợp Bản án số 14/2020/HS-ST ngày 12/3/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tổng hình phạt chung là 12 năm 03 tháng tù nên Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với tội danh đang xét xử sau đó tổng hợp hình phạt chung đối với 02 bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 55, khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6, bị hại không yêu cầu bồi thường nên HĐXX không đề cập xem xét giải quyết.

Đối với 01 (một) xe mô tô Yamaha Sirius, biển số 67H1 - T 122.79, bị hại đồng ý tự nguyện giao xe cho ông Tìa Thành tiếp tục sử dụng và yêu cầu bị cáo bồi thường 9.000.000 đồng. Xét thấy bị hại yêu cầu bồi thường số tiền 9.000.000 đồng là có lợi cho bị hại nên HĐXX chấp nhận, buộc bị cáo bồi thường cho Huỳnh Văn Phong số tiền 9.000.000 đồng.

: Về xử lý vật chứng: Xét thấy ông Huỳnh Văn Phong tự nguyện giao xe mô tô biển số 67H1 - T 122.79 cho ông Tìa Thành tiếp tục sử dụng nên HĐXX chấp nhận:

Trả lại ông Tìa Thành 01 (một) xe mô tô Yamaha Sirius, biển số 67H1 - T 122.79, màu sơn đỏ - đen, đã qua sử dụng; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy do Công an huyện Tịnh Biên (nay là Công an thị xã Tịnh Biên), tỉnh An Giang cung ngày 18/4/2022 cho ông Tìa Thành.

Về trách nhiệm của những người liên quan:

Đối với Dương Văn Cường là người nhận điện thoại di động Iphone 6 từ L nhưng do chưa xác định được địa chỉ cư trú nên chưa là việc được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định.

Đối với Tìa Thành là người mua xe mô tô biển số 67H1 - T 122.79 nhưng không biết đây là tài sản do L thực hiện hành vi cướp tài sản mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Thành.

Về quyền kháng cáo và án phí:

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Bé L phạm tội “Cướp tài sản”.

Căn cứ điểm khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 55, 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Thị Bé L 04 (bốn) năm tù.

Tổng hợp hình phạt của Bản án này với Bản án số 29/2024/HS-ST ngày 29/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Bị cáo Trần Thị Bé L phải chịu hình phạt chung là 16 (mười sáu) năm 03(ba) tháng tù.

Thời hạn chấp hành án của bị cáo được tính kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù. Bị cáo được khấu trừ thời gian đã chấp hành hình phạt của Bản án trước vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.

Căn cứ các điều 46, 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự 2015

Buộc bị cáo Trần Thị Bé L có trách nhiệm bồi thường cho ông Huỳnh Văn Phong 9.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành đầy đủ khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành

Căn cứ vào các Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Trả lại ông Tìa Thành 01 (một) xe mô tô Yamaha Sirius, biển số 67H1 - T 122.79, màu sơn đỏ - đen, đã qua sử dụng; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy do Công an huyện Tịnh Biên (nay là Công an thị xã Tịnh Biên), tỉnh An Giang cung ngày 18/4/2022 cho ông Tìa Thành.

(Hiện trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Phú và Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú).

Căn cứ Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Về án phí: Bị cáo Trần Thị Bé L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 450.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/4/2025), bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của người vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ