- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Kim C - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thị Kim Chung phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật TTHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2025/HS-ST Ngày: 30-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Huy Tuấn và ông Nguyễn Đức Thại.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quản Thu Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Gia Lai tham gia phiên toà: ông Nay Ha, Kiểm sát viên.
Trong hai ngày 29 và 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Thị Kim Chung, sinh năm 1980 tại Chư Prông, Gia Lai; nơi cư trú: thôn 1, xã Thăng Hưng, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai (nay là thôn 1, xã Bàu Cạn, tỉnh Gia Lai); nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đích (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kia (đã chết), có chồng là Nguyễn Ngọc Nam (đã chết) và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 23/01/2025, bị TAND huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai (Nay là TAND khu vực 8 – Gia Lai) xử phạt 08 năm từ về tội Buôn bán hàng cấm; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/01/2025 đến nay. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Võ Xuân Phong, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Tổ dân phố 4, phường Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Ngọc Nam, sinh năm 1975;
Địa chỉ: Thôn 1, xã Bàu Cạn, tỉnh Gia Lai. (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Ngọc Nam (theo ủy quyền): Chị Nguyễn Thị Anh Thư, sinh ngày 24/3/2006; Địa chỉ: Thôn 1, xã Bàu Cạn, tỉnh Gia Lai (là con ruột). Có mặt.
3. Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam - Chi nhánh Phố Núi- Phòng Giao dịch Hùng Vương.
Địa chỉ: số 242 Nguyễn Tất Thành, phường Plei Ku, tỉnh Gia Lai.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Anh Trân, chức vụ: Phó Giám đốc Phòng giao dịch Hùng Vương. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 13/01/2025, Võ Văn Thao (Sinh năm: 1974, trú tại: Tổ dân phố 2, phường Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk) sử dụng số thuê bao 0848.339.747 gọi điện thoại cho Chung theo số 0876.204.994 nói cần mua thuốc lá điếu nhập lậu. Thao đặt mua 12 (mười hai) thùng thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 10 (mười) thùng thuốc lá điếu nhãn hiệu JET, 01 (một) thùng thuốc lá điếu nhãn hiệu Mond và 01 (một) thùng thuốc lá điếu nhãn hiệu ESSE, mục đích Thao mua bán lại kiếm lời. Cả hai hẹn ngày 14/01/2025 sẽ giao hàng tại thị xã Ayun Pa (nay là phường Ayun Pa) tỉnh Gia Lai, Chung đồng ý và giá cả sẽ thông báo cho Thao sau khi lấy được hàng. Cùng ngày, Chung đi đến khu vực xã Ia Din (nay là xã Ia Krêl) gần Cửa khẩu Lệ Thanh, tỉnh Gia Lai để tìm một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) có bán thuốc lá nhập lậu. Tại đây Chung đặt vấn đề mua thuốc lá điếu nhập lậu gồm các loại JET, ESSE và Mond, người này đồng ý và báo giá 01 thùng JET là 8.500.000 đồng (tám triệu năm trăm nghìn đồng), 01 thùng ESSE là 8.550.000 đồng (tám triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 thùng Mond là 8.550.000 đồng (tám triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng). Sau khi thống nhất giá Chung đặt mua 11 thùng JET; 01 thùng Mond và 01 thùng ESSE (Tổng cộng 13 thùng, Chung mua dư 01 thùng JET để phòng khi Thao cần lấy thêm thì bán) với tổng số tiền là 110.600.000 đồng (một trăm mười triệu sáu trăm nghìn đồng) và được người đàn ông trên hẹn sáng sớm ngày 14/01/2025 lên nhận hàng và lấy tiền tại lô cao su trên Quốc lộ 19. Đến khoảng 06 giờ ngày 14/01/2025, Chung điều khiển xe ôtô loại xe 7 chỗ mang biển số 81A-085.11 đến địa điểm đã hẹn. Tại đây Chung nhận được toàn bộ số thuôc lá điếu như đã thỏa thuận, Chung trả trước cho người đàn ông trên với số tiền mặt 102.000.000 đồng, số tiền còn lại 8.600.000 đồng Chung hẹn trả sau. Sau khi nhận được hàng, Chung và Thao gọi điện thoại trao đổi với nhau về số lượng hàng và báo giá cho Thao là 01 thùng JET có giá 8.700.000 đồng (tám triệu bảy trăm nghìn đồng); 01 thùng MOND và 01 thùng ESSE cùng có giá 8.750.000 đồng (tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), Thao đồng ý. Chung điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 81A-085.11 mang theo số hàng là 13 (mười ba) thùng thuốc lá điếu đã mua được đi đến phường Ayun Pa, tỉnh Gia Lai như đã hẹn.
Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, Thao đến phường Ayun Pa vào uống nước tại 01 quán cà phê gần khu vực Công viên Tuổi trẻ (tại địa bàn phường Ayun Pa, tỉnh Gia Lai hiện nay) Lúc này, Thao gọi điện cho anh Võ Xuân Phong (SN: 1983, trú tại: Tổ dân phố 4, phường Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk) hỏi mượn xe ôtô của Phong để chở thùng hàng, anh Phong đồng ý. Khoảng 11 giờ cùng ngày, anh Phong xong việc, giao xe ôtô tải nhãn hiệu THAOCO, màu trắng, biển kiểm soát 47D-022.92 cho Thao mượn. Đến khoảng 11giờ 50 cùng ngày, Chung điện thoại cho Thao nói đã đến trung tâm phường Ayun Pa, Thao nói Chung chạy xe từ từ trên đường tỉnh lộ 668 theo hướng huyện Ea H’Leo, Đắk Lắk, Thao sẽ lái xe chạy đến. Sau đó Thao điều khiển xe đi đến đoạn đường tỉnh lộ 668 thuộc xã Ia Rbol, Gia Lai thì thấy xe của Chung, Thao bấm còi báo hiệu để cả hai dừng xe đậu sát lề đường, quay đuôi xe lại với nhau. Thao xuống xe, đưa 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) tiền mặt cho Chung, nói là tiền ứng trước, số tiền còn lại sẽ trả sau, Chung đồng ý và báo số lượng thuốc lá điếu nhập lậu là 11 thùng JET, 01 thùng Mond và 01 thùng ESSE. Sau đó Thao bốc toàn bộ số lượng thuốc lá từ xe của Chung sang xe ôtô biển kiểm soát 47D-022.92. Khi Chung và Thao chuyển xong số thuốc lá lên xe ôtô của Thao thì bị tổ tuần tra của Công an thị xã Ayun Pa phát hiện nên cả hai điều khiển xe bỏ chạy.
Khi Thao điều khiển xe đến địa phận xã Ia Rsươm, huyện Krông Pa (nay xã Uar), tỉnh Gia Lai thì dừng xe, khóa cửa, bỏ xe ôtô biển kiểm soát 47D-022.92 tại bãi đất trống, rồi bỏ trốn. Đối với 02 chiếc điện thoại mà Chung và Thao gọi cho nhau để trao đổi mua bán thuốc lá điếu thì cả hai đã vứt bỏ sau khi sự việc bị phát hiện.
Tổ tuần tra Công an Ayun Pa quá trình truy bắt, phát hiện xe ôtô biển kiểm soát 47D-022.92 bị Thao bỏ lại tại bãi đất trống nên đã tiến hành lập biên bản vụ việc, niêm phong phương tiện theo quy định và đưa về trụ sở Công an thị xã Ayun Pa (cũ). Tiến hành mở niêm phong, kiểm tra xe ôtô biển kiểm soát 47D-022.92 phát hiện tại cốp sau thùng xe có nhiều bao màu xanh, túi nilon màu đen chứa 6.500 (Sáu nghìn năm trăm) bao thuốc lá gồm: 5.500 (Năm nghìn năm trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “JET”, 500 (Năm trăm) bao thuốc lá nhãn hiệu “Mond VARIANCE Blueberry Menthol” và 500 (Năm trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “ESSE CHANGE”. Đến ngày 22/01/2025, Võ Văn Thao và Nguyễn Thị Kim Chung bị triệu tập làm việc và đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Qua khám xét khẩn cấp chỗ ở của Võ Văn Thao tại 794 Hùng Vương, tổ dân phố 2, phường Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk và chỗ ở của Trần Thị Kim Chung tại Thôn 1, xã Bàu Cạn, tỉnh Gia Lai: Kết quả không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án.
Tại Kết luận giám định số 151/KL-KTHS ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận như sau:
+ 5.500 (Năm nghìn năm trăm) bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu JET, loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp; các bao thuốc lá còn nguyên vẹn) trong 07 (bảy) bao xác rắn (bao tải) có 04 bao màu xanh, 03 bao màu trắng chuyển đến giám định đều là thuốc lá điếu đầu lọc thành phẩm mang nhãn hiệu JET; không phải là thuốc lá điếu đầu lọc được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất).
+ 500 (Năm trăm) bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu mond VARIANCE Blueberry Menthol, loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp; các bao thuốc lá còn nguyên vẹn) trong 01 (một) thùng giấy cát tông gửi giám định đều là thuốc lá điếu đầu lọc thành phẩm mang nhãn hiệu mond VARIANCE Blueberry Menthol; không phải là thuốc lá điếu đầu lọc được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất).
+ 500 (Năm trăm) bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu ESSE CHANGE, loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp; các bao thuốc lá còn nguyên vẹn) trong 01 (một) thùng giấy các tông gửi giám định đều là thuốc lá điếu đầu lọc thành phẩm mang nhãn hiệu ESSE CHANGE; không phải là thuốc lá điếu đầu lọc được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất).
- Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai không đủ cơ sở để kết luận các mẫu thuốc lá điếu đầu lọc mang các nhãn hiệu trên (JET, mond VARIANCE Blueberry Menthol và ESSE CHANGE) có nguồn gốc, xuất xứ chính xác từ nước nào.
Vật chứng vụ án:
+ 01 (một) xe ôtô, nhãn hiệu THACO, số loại: FRONTIER, loại xe: Tải Van, số máy: DAM16KR241000161YLF, số khung: RNHV24TART093026, biển kiểm soát: 47D-022.92, đã qua sử dụng. Qua điều tra xác định, chiếc xe ôtô trên thuộc sở hữu hợp pháp của anh Võ Xuân Phú (SN: 1986, trú tại: Tổ 3, phường Đạt Hiếu, thị xã Buôn Hồ (nay phường Buôn Hồ) tỉnh Đăk Lăk. Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai đã trả lại xe ôtô trên cho anh Phú.
+ 01 (một) xe ôtô nhãn hiệu HYUNDAI, số loại: SANTAFE, loại xe: Ôtô con, số máy: D4HBFU164109, số khung: 81XDFN001823, biển kiểm soát: 81A-085.11, đã qua sử dụng, người đứng tên giấy đăng ký xe là ông Nguyễn Ngọc Nam (chồng của bị can Trần Thị Kim Chung).
+ Đối với 02 điện thoại di động do bị can Trần Thị Kim Chung và Võ Văn Thao khai sử dụng để thực hiện hành vi Buôn bán hàng cấm, quá trình bỏ trốn hai bị can này vứt bỏ điện thoại, Cơ quan cảnh sát điều tra không thu giữ được.
+ 6.500 (sáu nghìn năm trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 5.500 (năm ngàn năm trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “JET”; 500 (năm trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “mond VARIANCE Blueberry Menthol” và 500 (năm trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “ESSE CHANGE”. Số thuốc lá sau khi trích mẫu, phục vụ giám định còn lại: 4.500 (bốn nghìn năm trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “JET”; 250 (hai trăm năm mươi) bao thuốc lá nhãn hiệu “mond VARIANCE Blueberry Menthol” và 250 (hai trăm năm mươi) bao thuốc lá nhãn hiệu “ESSE CHANGE”. Được niêm phong trong 06 (sáu) bao xác rắn (bao tải) dán giấy niêm phong có các dấu hình tròn nội dung “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH GIA LAI” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh Tâm, Bùi Sỹ Thà và Nguyễn Bá Hải.
Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Gia Lai đã truy tố bị cáo Trần Thị Kim Chung về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Gia Lai giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Trần Thị Kim Chung về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị HĐXX:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Kim Chung phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị Kim Chung từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giam ngày 23/01/2025.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội có tính chất vụ lợi nhưng hoàn cảnh hiện tại của bị cáo rất khó khăn nên đề nghị HĐXX xem xét miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu để tiêu hủy toàn bộ số thuốc lá điếu là 4.500 (bốn nghìn năm trăm) bao còn lại sau trích mẫu giám định.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) xe ôtô nhãn hiệu HYUNDAI, số loại: SANTAFE, loại xe: Ôtô con, số máy: D4HBFU164109, số khung: 81XDFN001823, biển kiểm soát: 81A-085.11, đã qua sử dụng, người đứng tên giấy đăng ký xe là ông Nguyễn Ngọc Nam (chồng của bị can Trần Thị Kim Chung).
- Truy thu buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 50.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Trong thời gian từ ngày 13/01/2025 đến 14/01/2025, theo thỏa thuận từ trước với đối tượng Võ Văn Thao, bị cáo Trần Thị Kim Chung đã có hành vi mua thuốc lá điếu nhập lậu của một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) tại địa bàn huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lại (cũ) và bán toàn bộ số thuốc lá điếu nhập lậu này cho Thao nhằm mục đích kiếm lời. Thực hiện thỏa thuận trên, ngày 14/01/2025, bị cáo đã tự mình điều khiển xe ôtô loại xe 7 chỗ đi lấy hàng từ xã Ia Krêl (gần Cửa khẩu Lệ Thanh), tỉnh Gia Lai. Sau đó đã chở hàng về đoạn đường tỉnh lộ 668 thuộc xã Ia Rbol, Gia Lai giao cho Võ Văn Thao. Khi bị cáo Chung và Thao giao nhận xong số thuốc lá nói trên thì bị tổ tuần tra của Công an thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai (cũ) phát hiện nên cả hai điều khiển xe bỏ chạy. Các nội dung khác của vụ án như nội dung cáo trạng đã xác định.
Bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng thuốc lá điếu nhập lậu là loại hàng hóa Nhà nước cấm buôn bán nhưng vì hám lợi bị cáo đã bất chấp pháp luật nên đã thực hành vi mua và bán một lượng lớn thuốc lá điếu nhập lậu nhằm kiếm lời. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước đối với các mặt hàng bị cấm kinh doanh, đồng thời gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
Bị cáo là người có năng lực pháp luật hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Số lượng thuốc lá điếu nhập lậu bị cáo đã mua, bán thuộc định lượng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Gia Lai truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trước và sau khi phạm tội thấy rằng:
Bị cáo có nhân thân không tốt. Ngày 20/7/2024, bị cáo đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chư Prông, Gia Lai (cũ) ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội Buôn bán hàng cấm.Vụ án đã được Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai (cũ) truy tố. Trong thời gian chờ Tòa án xét xử, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội buôn bán hàng cấm trong vụ án này.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào trong vụ án này. Sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo luôn thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đã thực hiện. Với các tình tiết giảm nhẹ nói trên, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo khi xem xét quyết định hình phạt.
Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy rằng quan điểm luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà đã phản ánh đúng tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nên cần chấp nhận. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời góp phần làm tốt công tác răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tổng hợp hình phạt chung: Ngày 23/01/2025, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai (cũ) xử phạt 08 năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm” theo Bản án số 08/2025/HS-ST. Bản án đã có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 BLHS, cần tổng hợp hình phạt mới được xét xử tại bản án này với hình phạt tại bản án hình sự nói trên thành hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội có tính chất vụ lợi đúng ra cần xử phạt bổ sung bằng tiền nhằm tăng tính răn đe. Tuy nhiên, vì hiện tại gia đình bị cáo đang có khó khăn đặc biệt khi chồng bị cáo đã chết trong thời gian bị cáo bị giam giữ chờ xử lý trong vụ án này; các con của bị cáo tuy đã đủ tuổi thành niên nhưng đang đi học nên chưa hoàn toàn tự lập; nhà ở, đất ở, đất rẫy của gia đình bị cáo đều đang thế chấp vay tiền ngân hàng, hiện tại không có điều kiện trả cho Ngân hàng nên HĐXX không xem xét xử phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo trong vụ án này.
Đối với hành vi của Võ Văn Thao đã được cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự cùng với bị cáo Chung trong vụ án này. Tuy nhiên, đối tượng Võ Văn Thao có dấu hiệu của bệnh tâm thần nên cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định để xác định năng lực trách nhiệm hình sự. Hết thời hạn điều tra vẫn chưa có kết luận giám định pháp y tâm thần của Võ Văn Thao. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai (Cơ quan điều tra Công an thị xã Ayun Pa (cũ) đã tách hành vi của Võ Văn Thao thành một vụ án khác, để tiếp tục điều tra làm rõ, giải quyết triệt để vụ án khi có đủ căn cứ.
Đối với hành vi của ông Võ Xuân Phong cho Võ Văn Thao mượn xe ôtô biển kiểm soát 47D-022.92 để đi chở hàng, ông Phong không biết việc Thao sử dụng xe mô tô chở thuốc lá điếu nhập lậu, Thao cũng không bàn bạc, thỏa thuận hay hứa hẹn gì với Phong về việc này cơ quan điều tra không xem xét xử lý là đúng quy định.
Đối với đối tượng đã bán 6.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu cho bị cáo Trần Thị Kim Chung vào ngày 14/01.2024. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa có căn cứ để xử lý.
Đối với ông Nguyễn Ngọc Nam, là chồng của bị cáo Trần Thị Kim Chung và là đồng sở hữu xe ôtô mang biển kiểm soát 81A-085.11 với bị cáo Trần Thị Kim Chung. Kết quả điều tra kết luận việc bị cáo sử dụng xe ôtô trên để vận chuyển số thuốc lá điếu nhập lậu đi bán bản thân ông Nam không biết nên không có căn cứ để xử lý.
Về biện pháp tư pháp: Kết quả điều tra kết luận bị cáo Chung mới chỉ nhận được số tiền mặt 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) từ Võ Văn Thao khi giao nhận số thuốc lá điếu nhập lậu đã bán cho Thao. Đây là số tiền thu lợi bất chính. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, cần truy thu buộc bị cáo nộp vào quỹ Nhà nước.
Về xử lý vật chứng:
- Vật chứng là chiếc xe ôtô, nhãn hiệu THACO, 47D-022.92 đã được giải quyết xong tại giai đoạn điều tra, việc xử lý là đúng pháp luật nên HĐXX không xem xét
- Vật chứng chưa xử lý là số thuốc lá sau khi trích mẫu, phục vụ giám định còn lại: 4.500 (bốn nghìn năm trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “JET”; 250 (hai trăm năm mươi) bao thuốc lá nhãn hiệu “mond VARIANCE Blueberry Menthol” và 250 (hai trăm năm mươi) bao thuốc lá nhãn hiệu “ESSE CHANGE” hiện không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật TTHS cần tịch thu tiêu hủy.
- Vật chứng là 01 (một) xe ôtô nhãn hiệu HYUNDAI, số loại: SANTAFE, loại xe: Ôtô con, số máy: D4HBFU164109, số khung: 81XDFN001823, biển kiểm soát: 81A-085.11, đã qua sử dụng, người đứng tên giấy đăng ký xe là ông Nguyễn Ngọc Nam (chồng của bị cáo Trần Thị Kim Chung). Hiện nay xe ô tô này đang thế chấp đảm bảo cho khoản vay 200.000.000 đồng của Trần Thị Kim Chung tại Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam (gọi tắt là BIDV) Chi nhánh Phố Núi – PGD Hùng Vương; thời hạn vay là 36 tháng từ 05/4/2023 đến 06/4/2026. Hiện ngân hàng có yêu cầu khách hàng tất toán nợ gốc và lãi phát sinh của khoản vay bằng tài sản đảm bảo.
Xét thấy chiếc xe này tài sản chung của bị cáo Trần Thị Kim Chung và chồng là Nguyễn Ngọc Nam, do ông Nam đứng tên đăng ký sở hữu. Kết quả điều tra kết luận việc bị cáo sử dụng xe ôtô trên để vận chuyển số thuốc lá điếu nhập lậu đi bán mặc dù ông Nam không biết. Căn cứ quy định về xử lý vật chứng tại điểm a, b khoản 1 Điều 106 Bộ luật TTHS thì tài sản được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội đều phải được tịch thu sung công quỹ hoặc tiêu hủy (nếu không có giá trị).
Đối với quyền lợi của Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam (gọi tắt là BIDV) Chi nhánh Phố Núi – PGD Hùng Vương tại Pleiku đang nhận thế chấp chiếc xe này bảo đảm cho khoản vay của bị cáo Chung tại Ngân hàng sẽ được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi người vay không trả được tiền khi hợp đồng đến hạn.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật để sung quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị Kim Chung phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên xử:
- Phạt bị cáo Trần Thị Kim Chung 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 23/01/2025.
Tổng hợp hình phạt 08 năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HSST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai (cũ), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 16 (Mười sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 23/01/2025.
2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự,
Truy thu buộc bị cáo Trần Thị Kim Chung nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo thu lợi bất chính là tiền mặt 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) là “tiền ứng trước” bị cáo đã nhận của Võ Văn Thao.
3. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số thuốc lá điếu nhập lậu đã thu giữ trong vụ án gồm: 4.500 (bốn nghìn năm trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “JET”; 250 (hai trăm năm mươi) bao thuốc lá nhãn hiệu “mond VARIANCE Blueberry Menthol” và 250 (hai trăm năm mươi) bao thuốc lá nhãn hiệu “ESSE CHANGE”. Được niêm phong trong 06 (sáu) bao xác rắn (bao tải) dán giấy niêm phong có các dấu hình tròn nội dung “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH GIA LAI” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh Tâm, Bùi Sỹ Thà và Nguyễn Bá Hải.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe ôtô nhãn hiệu HYUNDAI, số loại: SANTAFE, loại xe: Ôtô con, số máy: D4HBFU164109, số khung: 81XDFN001823, biển kiểm soát: 81A-085.11.
(Đặc điểm vật chứng, tài sản như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16 tháng 9 năm 2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - Gia Lai).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Trần Thị Kim Chung phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo:
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 30/9/2025 đối với những người có mặt tại phiên tòa; thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày trích lục bản án được tống đạt hợp lệ đối với những người vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo đối với phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND KV. 12 – Gia Lai;
THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- CQ.THA HS Công an T. Gia Lai;
- CQ.THA DS T. Gia Lai;
- Bị cáo, bị hại;
- Lưu HSVA, Lưu trữ.
Nguyễn Văn Toàn TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – GIA LAI Bản án số: 28/2025/HS-ST Ngày: 30-9-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Huy Tuấn và ông Nguyễn Đức Thại.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quản Thu Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Gia Lai tham gia phiên toà: ông Nay Ha, Kiểm sát viên.
Trong hai ngày 29 và 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Thị Kim Chung, sinh năm 1980 tại Chư Prông, Gia Lai; nơi cư trú: thôn 1, xã Thăng Hưng, huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai (nay là thôn 1, xã Bàu Cạn, tỉnh Gia Lai); nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đích (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kia (đã chết), có chồng là Nguyễn Ngọc Nam (đã chết) và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 23/01/2025, bị TAND huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai (Nay là TAND khu vực 8 – Gia Lai) xử phạt 08 năm từ về tội Buôn bán hàng cấm; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/01/2025 đến nay. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Võ Xuân Phong, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Tổ dân phố 4, phường Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Ngọc Nam, sinh năm 1975;
Địa chỉ: Thôn 1, xã Bàu Cạn, tỉnh Gia Lai. (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Ngọc Nam (theo ủy quyền): Chị Nguyễn Thị Anh Thư, sinh ngày 24/3/2006; Địa chỉ: Thôn 1, xã Bàu Cạn, tỉnh Gia Lai (là con ruột). Có mặt.
3. Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam - Chi nhánh Phố Núi-Phòng Giao dịch Hùng Vương.
Địa chỉ:
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Anh Trân, chức vụ: Phó Giám đốc Phòng giao dịch Hùng Vướng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 13/01/2025, Võ Văn Thao (Sinh năm: 1974, trú tại: Tổ dân phố 2, phường Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk) sử dụng số thuê bao 0848.339.747 gọi điện thoại cho Chung theo số 0876.204.994 nói cần mua thuốc lá điếu nhập lậu. Thao đặt mua 12 (mười hai) thùng thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 10 (mười) thùng thuốc lá điếu nhãn hiệu JET, 01 (một) thùng thuốc lá điếu nhãn hiệu Mond và 01 (một) thùng thuốc lá điếu nhãn hiệu ESSE, mục đích Thao mua bán lại kiếm lời. Cả hai hẹn ngày 14/01/2025 sẽ giao hàng tại thị xã Ayun Pa (nay là phường Ayun Pa) tỉnh Gia Lai, Chung đồng ý và giá cả sẽ thông báo cho Thao sau khi lấy được hàng. Cùng ngày, Chung đi đến khu vực xã Ia Din (nay là xã Ia Krêl) gần Cửa khẩu Lệ Thanh, tỉnh Gia Lai để tìm một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) có bán thuốc lá nhập lậu. Tại đây Chung đặt vấn đề mua thuốc lá điếu nhập lậu gồm các loại JET, ESSE và Mond, người này đồng ý và báo giá 01 thùng JET là 8.500.000 đồng (tám triệu năm trăm nghìn đồng), 01 thùng ESSE là 8.550.000 đồng (tám triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 thùng Mond là 8.550.000 đồng (tám triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng). Sau khi thống nhất giá Chung đặt mua 11 thùng JET; 01 thùng Mond và 01 thùng ESSE (Tổng cộng 13 thùng, Chung mua dư 01 thùng JET để phòng khi Thao cần lấy thêm thì bán) với tổng số tiền là 110.600.000 đồng (một trăm mười triệu sáu trăm nghìn đồng) và được người đàn ông trên hẹn sáng sớm ngày 14/01/2025 lên nhận hàng và lấy tiền tại lô cao su trên Quốc lộ 19. Đến khoảng 06 giờ ngày 14/01/2025, Chung điều khiển xe ôtô loại xe 7 chỗ mang biển số 81A-085.11 đến địa điểm đã hẹn. Tại đây Chung nhận được toàn bộ số thuôc lá điếu như đã thỏa thuận, Chung trả trước cho người đàn ông trên với số tiền mặt 102.000.000 đồng, số tiền còn lại 8.600.000 đồng Chung hẹn trả sau. Sau khi nhận được hàng, Chung và Thao gọi điện thoại trao đổi với nhau về số lượng hàng và báo giá cho Thao là 01 thùng JET có giá 8.700.000 đồng (tám triệu bảy trăm nghìn đồng); 01 thùng MOND và 01 thùng ESSE cùng có giá 8.750.000 đồng (tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), Thao đồng ý. Chung điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 81A-085.11 mang theo số hàng là 13 (mười ba) thùng thuốc lá điếu đã mua được đi đến phường Ayun Pa, tỉnh Gia Lai như đã hẹn.
Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, Thao đến phường Ayun Pa vào uống nước tại 01 quán cà phê gần khu vực Công viên Tuổi trẻ (tại địa bàn phường Ayun Pa, tỉnh Gia Lai hiện nay) Lúc này, Thao gọi điện cho anh Võ Xuân Phong (SN: 1983, trú tại: Tổ dân phố 4, phường Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk) hỏi mượn xe ôtô của Phong để chở thùng hàng, anh Phong đồng ý. Khoảng 11 giờ cùng ngày, anh Phong xong việc, giao xe ôtô tải nhãn hiệu THAOCO, màu trắng, biển kiểm soát 47D-022.92 cho Thao mượn. Đến khoảng 11giờ 50 cùng ngày, Chung điện thoại cho Thao nói đã đến trung tâm phường Ayun Pa, Thao nói Chung chạy xe từ từ trên đường tỉnh lộ 668 theo hướng huyện Ea H’Leo, Đắk Lắk, Thao sẽ lái xe chạy đến. Sau đó Thao điều xe đi đến đoạn đường tỉnh lộ 668 thuộc xã Ia Rbol, Gia Lai thì thấy xe của Chung, Thao bấm còi báo hiệu để cả hai dừng xe đậu sát lề đường, quay đuôi xe lại với nhau. Thao xuống xe, đưa 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) tiền mặt cho Chung, nói là tiền ứng trước, số tiền còn lại sẽ trả sau, Chung đồng ý và báo số lượng thuốc lá điếu nhập lậu là 11 thùng JET, 01 thùng Mond và 01 thùng ESSE. Sau đó Thao bốc toàn bộ số lượng thuốc lá từ xe của Chung sang xe ôtô biển kiểm soát 47D-022.92. Khi Chung và Thao chuyển xong số thuốc lá lên xe ôtô của Thao thì bị tổ tuần tra của Công an thị xã Ayun Pa phát hiện nên cả hai điều khiển xe bỏ chạy.
Khi Thao điều khiển xe đến địa phận xã Ia Rsươm, huyện Krông Pa (nay xã Uar), tỉnh Gia Lai thì dừng xe, khóa cửa, bỏ xe ôtô biển kiểm soát 47D-022.92 tại bãi đất trống, rồi bỏ trốn. Đối với 02 chiếc điện thoại mà Chung và Thao gọi cho nhau để trao đổi mua bán thuốc lá điếu thì cả hai đã vứt bỏ sau khi sự việc bị phát hiện.
Tổ tuần tra Công an Ayun Pa quá trình truy bắt, phát hiện xe ôtô biển kiểm soát 47D-022.92 bị Thao bỏ lại tại bãi đất trống nên đã tiến hành lập biên bản vụ việc, niêm phong phương tiện theo quy định và đưa về trụ sở Công an Ayun Pa. Tiến hành mở niêm phong, kiểm tra xe ôtô biển kiểm soát 47D-022.92 phát hiện tại cốp sau thùng xe có nhiều bao màu xanh, túi nilon màu đen chứa 6.500 (Sáu nghìn năm trăm) bao thuốc lá gồm: 5.500 (Năm nghìn năm trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “JET”, 500 (Năm trăm) bao thuốc lá nhãn hiệu “Mond VARIANCE Blueberry Menthol” và 500 (Năm trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “ESSE CHANGE”. Đến ngày 22/01/2025, Võ Văn Thao và Nguyễn Thị Kim Chung bị triệu tập làm việc và đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Qua khám xét khẩn cấp chỗ ở của Võ Văn Thao tại 794 Hùng Vương, tổ dân phố 2, phường Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk và chỗ ở của Trần Thị Kim Chung tại Thôn 1, xã Bàu Cạn, tỉnh Gia Lai: Kết quả không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án.
Tại Kết luận giám định số 151/KL-KTHS ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận như sau:
+ 5.500 (Năm nghìn năm trăm) bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu JET, loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp; các bao thuốc lá còn nguyên vẹn) trong 07 (bảy) bao xác rắn (bao tải) có 04 bao màu xanh, 03 bao màu trắng chuyển đến giám định đều là thuốc lá điếu đầu lọc thành phẩm mang nhãn hiệu JET; không phải là thuốc lá điếu đầu lọc được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất).
+ 500 (Năm trăm) bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu mond VARIANCE Blueberry Menthol, loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp; các bao thuốc lá còn nguyên vẹn) trong 01 (một) thùng giấy cát tông gửi giám định đều là thuốc lá điếu đầu lọc thành phẩm mang nhãn hiệu mond VARIANCE Blueberry Menthol; không phải là thuốc lá điếu đầu lọc được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất).
+ 500 (Năm trăm) bao thuốc lá điếu (nhãn hiệu ESSE CHANGE, loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp; các bao thuốc lá còn nguyên vẹn) trong 01 (một) thùng giấy các tông gửi giám định đều là thuốc lá điếu đầu lọc thành phẩm mang nhãn hiệu ESSE CHANGE; không phải là thuốc lá điếu đầu lọc được sản xuất tại Việt Nam (do nước ngoài sản xuất).
- Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai không đủ cơ sở để kết luận các mẫu thuốc lá điếu đầu lọc mang các nhãn hiệu trên (JET, mond VARIANCE Blueberry Menthol và ESSE CHANGE) có nguồn gốc, xuất xứ chính xác từ nước nào.
Vật chứng vụ án:
+ 01 (một) xe ôtô, nhãn hiệu THACO, số loại: FRONTIER, loại xe: Tải Van, số máy: DAM16KR241000161YLF, số khung: RNHV24TART093026, biển kiểm soát: 47D-022.92, đã qua sử dụng. Qua điều tra xác định, chiếc xe ôtô trên thuộc sở hữu hợp pháp của anh Võ Xuân Phú (SN: 1986, trú tại: Tổ 3, phường Đạt Hiếu, thị xã Buôn Hồ (nay phường Buôn Hồ) tỉnh Đăk Lăk. Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai đã trả lại xe ôtô trên cho anh Phú.
+ 01 (một) xe ôtô nhãn hiệu HYUNDAI, số loại: SANTAFE, loại xe: Ôtô con, số máy: D4HBFU164109, số khung: 81XDFN001823, biển kiểm soát: 81A-085.11, đã qua sử dụng, người đứng tên giấy đăng ký xe là ông Nguyễn Ngọc Nam (chồng của bị can Trần Thị Kim Chung).
+ Đối với 02 điện thoại di động do bị can Trần Thị Kim Chung và Võ Văn Thao khai sử dụng để thực hiện hành vi Buôn bán hàng cấm, quá trình bỏ trốn hai bị can này vứt bỏ điện thoại, Cơ quan cảnh sát điều tra không thu giữ được.
+ 6.500 (sáu nghìn năm trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 5.500 (năm ngàn năm trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “JET”; 500 (năm trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “mond VARIANCE Blueberry Menthol” và 500 (năm trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “ESSE CHANGE”. Số thuốc lá sau khi trích mẫu, phục vụ giám định còn lại: 4.500 (bốn nghìn năm trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “JET”; 250 (hai trăm năm mươi) bao thuốc lá nhãn hiệu “mond VARIANCE Blueberry Menthol” và 250 (hai trăm năm mươi) bao thuốc lá nhãn hiệu “ESSE CHANGE”. Được niêm phong trong 06 (sáu) bao xác rắn (bao tải) dán giấy niêm phong có các dấu hình tròn nội dung “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH GIA LAI” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh Tâm, Bùi Sỹ Thà và Nguyễn Bá Hải.
Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Gia Lai đã truy tố bị cáo Trần Thị Kim Chung về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Gia Lai giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Trần Thị Kim Chung về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị HĐXX:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Kim Chung phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị Kim Chung từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giam ngày 23/01/2025.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội có tính chất vụ lợi nhưng hoàn cảnh hiện tại của bị cáo rất khó khăn nên đề nghị HĐXX xem xét miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu để tiêu hủy toàn bộ số thuốc lá điếu 4.500 (bốn nghìn năm trăm) bao thuốc lá điếu còn lại sau trích mẫu giám định.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) xe ôtô nhãn hiệu HYUNDAI, số loại: SANTAFE, loại xe: Ôtô con, số máy: D4HBFU164109, số khung: 81XDFN001823, biển kiểm soát: 81A-085.11, đã qua sử dụng, người đứng tên giấy đăng ký xe là ông Nguyễn Ngọc Nam (chồng của bị can Trần Thị Kim Chung).
- Truy thu buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 50.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Trong thời gian từ ngày 13/01/2025 đến 14/01/2025, theo thỏa thuận từ trước với đối tượng Võ Văn Thao, bị cáo Trần Thị Kim Chung đã có hành vi mua thuốc lá điếu nhập lậu của một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) tại địa bàn huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lại (cũ) và bán toàn bố số thuốc lá nhập lậu này cho Thao nhằm mục đích kiếm lời. Thực hiện thỏa thuận trên, ngày 14/01/2025, bị cáo đã tự mình điều khiển xe ôtô loại xe 7 chỗ đi lấy hàng từ xã Ia Krêl (gần Cửa khẩu Lệ Thanh), tỉnh Gia Lai. Sau đó đã chở hàng về đoạn đường tỉnh lộ 668 thuộc xã Ia Rbol, Gia Lai giao cho Võ Văn Thao. Khi bị cáo Chung và Thao giao nhận xong số thuốc lá nói trên thì bị tổ tuần tra của Công an thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai (cũ) phát hiện nên cả hai điều khiển xe bỏ chạy. Các nội dung khác của vụ án như nội dung cáo trạng đã xác định.
Bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng thuốc lá điếu nhập lậu là loại hàng hóa Nhà nước cấm buôn bán nhưng vì hám lợi bị cáo đã bất chấp pháp luật nên đã thực hành vi mua và bán một lượng lớn thuốc lá điếu nhập lậu lớn nhằm kiếm lời. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước đối với các mặt hàng bị cấm kinh doanh, đồng thời gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
Bị cáo là người có năng lực pháp luật hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Số lượng thuốc lá điếu nhập lậu bị cáo đã mua, bán thuộc định lượng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Gia Lai truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trước và sau khi phạm tội thấy rằng:
Bị cáo có nhân thân không tốt. Ngày 20/7/2024, bị cáo đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chư Prông, Gia Lai (cũ) ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội Buôn bán hàng cấm.Vụ án đã được Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai (cũ) truy tố. Trong thời gian chờ Tòa án xét xử, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội buôn bán hàng cấm trong vụ án này.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào trong vụ án này. Sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo luôn thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đã thực hiện. Với các tình tiết giảm nhẹ nói trên, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo khi xem xét quyết định hình phạt.
Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy rằng quan điểm luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà đã phản ánh đúng tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nên cần chấp nhận. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời góp phần làm tốt công tác răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tổng hợp hình phạt chung: Ngày 23/01/2025, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai (cũ) xử phạt 08 năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm” theo Bản án số 08/2025/HSST. Bản án đã có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 BLHS, cần tổng hợp hình phạt mới được xét xử tại bản án này với hình phạt tại bản án hình sự nói trên thành hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội có tính chất vụ lợi đúng ra cần xử phạt bổ sung bằng tiền nhằm tăng tính răn đe. Tuy nhiên, vì hiện tại gia đình bị cáo đang có khó khăn đặc biệt khi chồng bị cáo đã chết trong thời gian bị cáo bị giam giữ chờ xử lý trong vụ án này; các con của bị cáo tuy đã đủ tuổi thành niên nhưng đang đi học nên chưa hoàn toàn tự lập; nhà ở, đất ở, đất rãy của gia đình bị cáo đều đang thế chấp vay tiền ngân hàng, hiện tại không có điều kiện trả nên HĐXX không xem xét xử phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo trong vụ án này.
Đối với hành vi của Võ Văn Thao đã được cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự cùng với bị cáo Chung trong vụ án này. Tuy nhiên, đối tượng Võ Văn Thao có dấu hiệu của bệnh tâm thần nên cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định để xác định năng lực trách nhiệm hình sự. Hết thời hạn điều tra vẫn chưa có kết luận giám định pháp y tâm thần của Võ Văn Thao. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai (Cơ quan điều tra Công an thị xã Ayun Pa (cũ) đã tách hành vi của Võ Văn Thao thành một vụ án khác, để tiếp tục điều tra làm rõ, giải quyết triệt để vụ án khi có đủ căn cứ.
Đối với hành vi của ông Võ Xuân Phong cho Võ Văn Thao mượn xe ôtô biển kiểm soát 47D-022.92 để đi chở hàng, ông Phong không biết việc Thao sử dụng xe mô tô chở thuốc lá điếu nhập lậu, Thao cũng không bàn bạc, thỏa thuận hay hứa hẹn gì với Phong về việc này cơ quan điều tra không xem xét xử lý là đúng quy định.
Đối với đối tượng đã bán 6.500 bao thuốc lá điếu nhập lậu cho bị cáo Trần Thị Kim Chung vào ngày 14/01.2024. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa có căn cứ để xử lý.
Đối với ông Nguyễn Ngọc Nam, là chồng của bị cáo Trần Thị Kim Chung và là đồng sở hữu xe ôtô mang biển kiểm soát 81A-085.11 với bị cáo Trần Thị Kim Chung. Kết quả điều tra kết luận việc bị cáo sử dụng xe ôtô trên để vận chuyển số thuốc lá điếu nhập lậu đi bán bản thân ông Nam không biết nên không có căn cứ để xử lý.
Về biện pháp tư pháp: Kết quả điều tra kết luận bị cáo Chung mới chỉ nhận được số tiền mặt 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) từ Võ Văn Thao khi giao nhận số thuốc lá điếu nhập lậu đã bán cho Thao. Đây là số tiền thu lợi bất chính. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, cần truy thu buộc bị cáo nộp vào quỹ Nhà nước.
Về xử lý vật chứng:
- Vật chứng là chiếc xe ôtô, nhãn hiệu THACO, 47D-022.92 đã được giải quyết xong tại giai đoạn điều tra, việc xử lý là đúng pháp luật nên HĐXX không xem xét
- Vật chứng chưa xử lý là số thuốc lá sau khi trích mẫu, phục vụ giám định còn lại: 4.500 (bốn nghìn năm trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “JET”; 250 (hai trăm năm mươi) bao thuốc lá nhãn hiệu “mond VARIANCE Blueberry Menthol” và 250 (hai trăm năm mươi) bao thuốc lá nhãn hiệu “ESSE CHANGE” hiện không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật TTHS cần tịch thu tiêu hủy.
- Vật chứng là 01 (một) xe ôtô nhãn hiệu HYUNDAI, số loại: SANTAFE, loại xe: Ôtô con, số máy: D4HBFU164109, số khung: 81XDFN001823, biển kiểm soát: 81A-085.11, đã qua sử dụng, người đứng tên giấy đăng ký xe là ông Nguyễn Ngọc Nam (chồng của bị cáo Trần Thị Kim Chung). Hiện nay xe ô tô này đang thế chấp đảm bảo cho khoản vay 200.000.000 đồng của Trần Thị Kim Chung tại Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam (gọi tắt là BIDV) Chi nhánh Phố Núi – PGD Hùng Vương; thời hạn vay là 36 tháng từ 05/4/2023 đến 06/4/2026. Hiện ngân hàng có yêu cầu khách hàng tất toán nợ gốc và lãi phát sinh của khoản vay bằng tài sản đảm bảo.
Xét thấy chiếc xe này tài sản chung của bị cáo Trần Thị Kim Chung và chồng là Nguyễn Ngọc Nam, do ông Nam đứng tên đăng ký sở hữu. Kết quả điều tra kết luận việc bị cáo sử dụng xe ôtô trên để vận chuyển số thuốc lá điếu nhập lậu đi bán mặc dù ông Nam không biết. Căn cứ quy định về xử lý vật chứng tại điểm a, b khoản 1 Điều 106 Bộ luật TTHS thì tài sản được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội đều phải được tịch thu sung công quỹ hoặc tiêu hủy (nếu không có giá trị).
Đối với quyền lợi của Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam (gọi tắt là BIDV) Chi nhánh Phố Núi – PGD Hùng Vương tại Pleiku đang nhận thế chấp chiếc xe này bảo đảm cho khoản vay của bị cáo Chung tại Ngân hàng sẽ được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi người vay không trả được tiền khi hợp đồng đến hạn.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật để sung quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị Kim Chung phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều
56 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên xử:
- Phạt bị cáo Trần Thị Kim Chung 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 23/01/2025.
Tổng hợp hình phạt 08 năm tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HSST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai (cũ), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 16 (Mười sáu) 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 23/01/2025.
2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự,
Truy thu buộc bị cáo Trần Thị Kim Chung nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo thu lợi bất chính là tiền mặt 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) là “tiền ứng trước” bị cáo đã nhận của Võ Văn Thao.
3. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số thuốc lá điếu nhập lậu đã thu giữ trong vụ án
gồm: 4.500 (bốn nghìn năm trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “JET”; 250 (hai trăm năm mươi) bao thuốc lá nhãn hiệu “mond VARIANCE Blueberry Menthol” và 250 (hai trăm năm mươi) bao thuốc lá nhãn hiệu “ESSE CHANGE”. Được niêm phong trong 06 (sáu) bao xác rắn (bao tải) dán giấy niêm phong có các dấu hình tròn nội dung “PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH GIA LAI” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Minh Tâm, Bùi Sỹ Thà và Nguyễn Bá Hải.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc xe ôtô nhãn hiệu HYUNDAI, số loại: SANTAFE, loại xe: Ôtô con, số máy: D4HBFU164109, số khung: 81XDFN001823, biển kiểm soát: 81A-085.11.
(Đặc điểm vật chứng, tài sản như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày
16 tháng 9 năm 2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - Gia Lai).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, 23
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Trần Thị Kim Chung phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo:
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 30/9/2025 đối với những người có mặt tại phiên tòa; thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày trích lục bản án được tống đạt hợp lệ đối với những người vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo đối với phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
| Nơi nhận: - VKSND KV. 12 – Gia Lai; - CQ.THA HS Công an T. Gia Lai; - CQ.THA DS T. Gia Lai; - Bị cáo, bị hại; - Lưu HSVA, Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Toàn |