vanban.org

Bản án 28/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 31/07/2025 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L Huỳnh Mai K.

Cho chị L Huỳnh Mai K và anh Vo Binh D ly hôn. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Huỳnh Mai K - Vo Duy Binh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L Huỳnh Mai K.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 31-7-2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Nước Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Lê Quang Trí

2- Bà Nguyễn Thanh Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 31 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp xin ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lý Huỳnh Mai K, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Số B, Khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã M, tỉnh Đồng Tháp).

Bị đơn: Anh Vo Binh D (Võ Duy B), sinh năm 1967.

Địa chỉ: 1 S, NW, E, A, C.

Chị Lý Huỳnh Mai K có đơn xin xét xử vắng mặt; Anh Vo Binh D vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị L Huỳnh Mai K trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Mai K và anh Vo Binh D quen biết qua mai mối. Sau một thời gian tìm hiểu chị K, anh Vo Binh D đã tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp theo Giấy chứng nhận kết hôn số 23/2019, ngày 10/5/2019; Sau khi tổ chức lễ cưới khoảng hơn 01 tháng thì anh Vo Binh D trở về Canada sinh sống và làm việc, chị K thì ở lại Việt Nam. Thời gian đầu, anh Vo Binh D còn gọi điện hỏi thăm, trò chuyện cùng chị K; nhưng càng về sau các cuộc trò chuyện, quan tâm giữa chị K, anh Vo Binh D càng thưa dần. Vì vậy tình cảm vợ chồng giữa chị K, anh Vo Binh D ngày càng xa cách, bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm trong cuộc sống. Sau đó dịch bệnh bùng phát, chị K, anh Vo Binh D đã mất liên lạc với nhau kể từ đầu năm 2020 cho đến nay.

Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị K yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết cho chị K được ly hôn với anh Vo Binh D.

- Về con chung: Không có.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Vo Binh D đã được Tòa án tống đạt qua dịch vụ bưu chính nhưng tại phiên tòa hôm nay anh Vo Binh D vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đơn khởi kiện và văn bản ý kiến của chị Lý Huỳnh Mai K, Hội đồng xét xử nhận định:

. Chị K và Vo Binh D đăng ký kết hôn ngày 10/5/20219 tại Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xem là hôn nhân hợp pháp.

. Chị L Huỳnh Mai K là người có quốc tịch Việt Nam, yêu cầu được ly hôn với anh Vo Binh D có quốc tịch Canada thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài quy định tại điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Chị K yêu cầu được ly hôn với anh Vo Binh D là tranh chấp về ly hôn mà có đương sự ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37 và khoản 2 Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng cho anh Vo Binh D qua dịch vụ bưu chính nhưng anh Vo Binh D không có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị K và cũng không có mặt tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp để giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Vo Binh D là phù hợp với quy định tại Điều 477 Bộ Luật tố tụng dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

. Xét yêu cầu của chị K xin được ly hôn với anh Vo Binh D, Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi tổ chức lễ cưới thì anh Vo Binh D trở về Canada sinh sống và làm việc, chị K thì ở lại Việt Nam. Thời gian đầu, anh Vo Binh D còn gọi điện hỏi thăm, trò chuyện cùng chị K; Thời gian sau chị K và anh Vo Binh D bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về tư tưởng, suy nghĩ, văn hóa. Sau đó dịch bệnh bùng phát, chị K, anh Vo Binh D đã mất liên lạc với nhau kể từ đầu năm 2020 cho đến nay, nhận thấy chị K và anh Vo Binh D có mâu thuẫn về tình cảm không thể nào hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L Huỳnh Mai K.

. Về con chung, tài sản chung, nợ chung chị K xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề để giải quyết.

. Về án phí sơ thẩm: Chị K phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

. Về chi phí tố tụng: Chị K phải nộp chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 9, 56 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 1 Điều 470, Điều 477 Bộ Luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L Huỳnh Mai K.

Cho chị L Huỳnh Mai K và anh Vo Binh D ly hôn.

2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm

Chị L Huỳnh Mai K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003224 ngày 01/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

3. Về chi phí ủy thác tư pháp về dân sự

Chị K phải nộp chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn chị L Huỳnh Mai K được quyền kháng cáo bản án này lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Bị đơn anh Vo Binh D được quyền kháng cáo bản án này lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:

Cỡ chữ