- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phàn Cờ Mủi yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Bàn Ồng L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lục Thị G và anh Hoàng Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _________________________________ Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25- 6 - 2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Sầm Thị Tươi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Trọng Trung và bà Vũ Thị Hồng Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tráng Kháy Phìn - Thư ký Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phàn Cờ M, sinh năm 1988
Nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện V, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lương Thị C - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Bàn Ồng L, sinh năm 1989
Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện V, tỉnh Lào Cai. Có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Phạm Thị Hoa H – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 02 năm 2025; biên bản lấy lời khai ngày 19 tháng 3 năm 2025; quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và nguyên đơn chị Phàn Cờ M trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh Bàn Ồng L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19/12/2011 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện V, tỉnh Lào Cai. Sau kết hôn, anh chị chung sống ở thôn H, xã N, huyện V, tỉnh Lào Cai; vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không thể hòa hợp được, vợ chồng nghi ngờ nhau, không tin tưởng nhau trong cuộc sống nên thường xuyên đánh, cãi chửi nhau, vợ chồng không tôn trọng nhau trong cuộc sống. Từ cuối năm 2018 đến nay, vợ chồng chị M sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau nữa. Mâu thuẫn vợ chồng chị M đã được gia đình hai bên, thôn hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả gì. Nay chị M xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn không thể khắc phục được nên chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện V giải quyết cho ly hôn với anh Bàn Ồng L.
- Về con chung: Quá trình chung sống, chị M và anh L có hai người con chung là cháu Bàn Thu H1, sinh ngày 16/12/2012 và cháu Bàn Thị Khánh P, sinh ngày 04/02/2016. Các cháu phát triển khỏe mạnh, bình thường; từ khi anh chị sống ly thân thì chị M trực tiếp nuôi dưỡng cháu P, anh L trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1. Khi ly hôn, chị M yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu P; giải quyết cho anh L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu H1 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Về điều kiện nuôi con khi ly hôn: Chị M xác nhận, chị và anh L đều là lao động tự do, thu nhập được 7.000.000 đồng/người/tháng; tại địa phương mức nuôi dưỡng con chung của anh chị là 1.000.000 đồng/tháng/cháu. Vì vậy chị M và anh L đều đủ điều kiện nuôi con khi ly hôn.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Quá trình chung sống, chị M và anh L không có tài sản chung, không vay nợ ai, không cho ai vay nợ gì nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị M là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên xin được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 BLTTDS; Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 tuyên chấp nhận yêu cầu của chị Phàn Cờ M
- Về hôn nhân: Chị Phàn Cờ M được ly hôn với anh Bàn Ồng L.
- Về con chung: Chị Phàn Cờ M là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bàn Thị Khánh P; anh Bàn Ồng L là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bàn Thu H1 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi; không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Về án phí: Chị M là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc diện được miễn án toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Căn cứ Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH ngày 30/12/2016 đề nghị miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị M.
Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn đã giao nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp.
2. Ý kiến của bị đơn: Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn theo đơn đề nghị ngày 02/6/2025 của bị đơn như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Bàn Ồng L xác nhận đơn khởi kiện của chị M trình bày là đúng về quan hệ hôn nhân của anh và chị M. Nay anh L đồng ý ly hôn với chị M vì tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng.
- Về con chung: Anh L xác nhận, quá trình chung sống anh và chị M có 02 người con chung như chị M trình bày là hoàn toàn đúng. Anh L đồng ý với ý kiến của chi M về con chung khi ly hôn. Khi Ly hôn, anh L yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh nuôi cháu H1, giải quyết cho chị M nuôi cháu P cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Về điều kiện nuôi con khi ly hôn: Anh L và chị M đều là lao động tự do, thu nhập được 7.000.000 đồng/người/tháng. Tại địa phương mức nuôi dưỡng con chung của anh chị là 1.000.000 đồng/tháng/cháu. Vì vậy chị M và anh L đều đủ điều kiện nuôi con khi ly hôn.
- Về tài sản và công nợ chung: Anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và công nợ cung khi ly hôn.
Do anh L bận đi làm ở công ty, không thể xin nghỉ để đến Tòa án giải quyết vụ án được nên anh đề nghị Tòa án cho anh được vắng mặt anh tại các phiên họp, phiên tòa.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 BLTTDS; Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, giải quyết cho anh Bàn Ồng L và chị Phàn C1 Mủi ly hôn; giải quyết cho anh L được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1; giải quyết cho chị M được trực tiếp nuôi dưỡng cháu P cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi; không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung; nếu anh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm thì đề nghị xem xét miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho anh L.
3. Ý kiến của con chưa thành niên: Cháu Bàn Thu H1 có nguyện vọng ở với bố, cháu Bàn Thị Khánh P có nguyện vọng ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.
Quá trình giải quyết vụ án, chị M đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án nên Tòa án đã lập biên bản không tiến hành hòa giải được về quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng con chung theo quy định của pháp luật.
4. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, cụ thể: Thẩm quyền thụ lý vụ án, mối quan hệ tranh chấp đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39; xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68; xác minh, thu thập chứng cứ, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng quy định tại các điều từ Điều 93 đến Điều 97. Trình tự thụ lý, giao nhận thông báo thụ lý cho đương sự và cho Viện kiểm sát đúng quy định tại Điều 195, 196. Thời hạn chuẩn bị xét xử thực hiện đúng quy định tại Điều 203. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71,72 BLTTDS.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, giải quyết theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phàn Cờ M được ly hôn với anh Bàn Ồng L.
- Về con chung: Giao cháu Bàn Thu H1, sinh ngày 16/12/2012 cho anh B Ồng Lai trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi; Giao cháu Bàn Thị Khánh P, sinh ngày 04/02/2016 cho chị Phàn Cờ M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Phàn Cờ M và anh B Ồng Lai không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Về án phí và quyền kháng cáo tuyên theo quy định của pháp luật.
Yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phân tích, đánh giá, nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Phàn C1 Mủi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” với anh Bàn Ồng L có địa chỉ nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện V, tỉnh Lào Cai. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện V. Bị đơn vắng mặt lần thứ nhất và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hợp lệ. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phàn Cờ M và anh Bàn Ồng L là hợp pháp. Anh chị đều xác nhận, chị M và anh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19/12/2011 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện V, tỉnh Lào Cai. Sau kết hôn, anh chị chung sống ở thôn H, xã N, huyện V, tỉnh Lào Cai; vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không thể hòa hợp được, vợ chồng nghi ngờ nhau, không tin tưởng nhau trong cuộc sống nên thường xuyên đánh, cãi chửi nhau, vợ chồng không tôn trọng nhau trong cuộc sống. Từ cuối năm 2018 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không quan tâm gì đến nhau nữa. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên, thôn hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả gì. Nay chị M xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn không thể khắc phục được nên chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện V giải quyết cho ly hôn với anh Bàn Ồng L. Anh L đồng ý ly hôn với chị M vì tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng. Do anh L vắng mặt tại phiên hòa giải, phiên tòa nên Hội đồng xét xử cần căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Phàn C1 Mủi được ly hôn với anh Bàn Ồng L.
3] Về con chung: Chị M và anh L đều xác nhận, quá trình chung sống, anh chị có hai người con chung là cháu Bàn Thu H1, sinh ngày 16/12/2012 và cháu Bàn Thị Khánh P, sinh ngày 04/02/2016. Các cháu phát triển khỏe mạnh, bình thường; từ khi anh chị sống ly thân thì chị M trực tiếp nuôi dưỡng cháu P, anh L trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1. Khi ly hôn, chị M và anh L đều yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu P; giải quyết cho anh L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu H1 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị M và anh L đều không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị M và anh L đều xác nhận, anh chị là lao động tự do, thu nhập được 7.000.000 đồng/người/tháng; tại địa phương mức nuôi dưỡng con chung của anh chị là 1.000.000 đồng/tháng/cháu. Anh chị đều đủ điều kiện nuôi con khi ly hôn. Tuy nhiên, do anh L vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu Bàn Thu H1 cho anh B Ồng Lai trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; giao cháu Bàn Thị Khánh P cho chị Phàn Cờ M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung: Các đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và công nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Chị M là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và đề nghị được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ nên chị M được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phàn Cờ M và anh Bàn Ồng L. Quan hệ hôn nhân của chị Phàn Cờ M và anh Bàn Ồng L chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao con chung cháu Bàn Thị Khánh P, sinh ngày 04/02/2016 cho chị Phàn Cờ M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; giao cháu Bàn Thu H1, sinh ngày 16/12/2012 cho anh B Ồng Lai trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Phàn Cờ M và anh Bàn Ồng L, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí: Chị Phàn Cờ M được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
5. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Người BVQ&LIHP của đương sự;
- TAND tỉnh Lào Cai;
(Đã ký)
- VKSND huyện V (2);
- CCTHADS huyện V;
- UBND xã N,
huyện V, tỉnh Lào Cai;
- Lưu: HS, THS (3).
Sầm Thị Tươi
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Sầm Thị Tươi
1. Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Hoàng Văn Đ tự nguyện về chung
sống với nhau như vợ chồng từ cuối năm 2015, không đăng ký kết hôn. Đến
ngày 03/11/2016, chúng tôi mới đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân
xã H, huyện V, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn, chúng tôi chung sống hòa thuận,
hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân
chính dẫn đến mâu thuẫn là do chúng tôi không cùng quan điểm sống, mỗi
người một suy nghĩ khác nhau, quá trình chung sống với nhau chúng tôi mới
biết chúng tôi có quá nhiều sự khác biệt nên chúng tôi không thông cảm được
với nhau trong cuộc sống, chúng tôi không có tiếng nói chung hàng ngày. Cuộc
sống vợ chồng cứ thế mà nhạt dần, chung sống không có hạnh phúc. Mâu thuẫn
vợ chồng tôi trầm trọng vào cuối năm 2024 chúng tôi đã cãi chửi nhau nên
không chung sống với nhau nữa. Từ cuối năm 2024 đến nay vợ chồng tôi sống
ly thân, không quan tâm gì đến nhau nữa. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng
không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đíc hôn nhân không đạt
được, nếu cứ tiếp tục thì sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của tôi nên tôi yêu cầu
Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Hoàng Văn Đ.
2. Về con chung: Trong thời gian chung sống chúng tôi có 02 người con
chung là cháu Hoàng Gia P1, sinh ngày 24/9/2016 và cháu Hoàng Gia A, sinh
ngày 23/8/2021. Hiện nay cháu P1 đang ở cùng với anh Đ, cháu A đang ở cùng
với tôi. Khi ly hôn, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được trực tiếp trông
nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Hoàng Gia A; giải quyết cho anh
Hoàng Văn Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hoàng Gia P1
cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp
dưỡng nuôi con chung.
Về điều kiện nuôi con khi ly hôn: Tôi nghề nghiệp là tự do, trồng trọt
chăn nuôi tại gia đình và đi làm thuê, thu nhập được 5.000.000 đồng/tháng;
mức nuôi dưỡng con chung của chúng tôi là 1.000.000 đồng/tháng nên tôi đủ
điều kiện nuôi con.
3. Về tài sản và công nợ chung: Vợ chồng tôi không có tài sản chung;
không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ gì nên tôi không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
2. Đối với bị đơn anh Lù Văn S: Tại biên bản lấy lời khai ngày 16 tháng 01 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lù Văn S trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lù Văn S và chị Phần Thị C2 tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 5/2013, không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật; được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương. Ngày 29/7/2014 anh chị mới đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện V, tỉnh Lào Cai. Anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 8/2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và làm ăn kinh tế; từ đó vợ chồng không yêu thương nhau, sống không hạnh phúc. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên tháng 12/2018 anh chị đã đi làm thuê mỗi người ở một nơi; chỉ thỉnh thoảng quan tâm đến nhau; khoảng 1 năm nay vợ chồng không quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị C2 yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh S thì anh S không đồng ý ly hôn vì hai con chung còn nhỏ nên anh S muốn chị C2 tiếp tục về chung sống với anh S để cùng anh S nuôi con.
- Về con chung: Quá trình chung sống anh S và chị C2 có hai người con chung là cháu Lù Văn Q, sinh ngày 26/6/2014 và cháu Lù Thị N, sinh ngày 27/01/2016. Từ khi anh chị sống ly thân đến nay thì cả hai cháu ở cùng với anh S. Nếu chị C2 kiên quyết ly hôn với anh S thì anh S yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Q và cháu N cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Tại Biên bản ghi ý kiến của con chưa thành niên là cháu Lù Văn Q trình bày: Nay bố mẹ ly hôn thì cháu Q có nguyện vọng được ở với bố để bố trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu.
Đối với vụ án này, Tòa án đã tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng các đương sự không thống nhất được với nhau về quan hệ hôn nhân và nuôi dưỡng con chung khi ly hôn.
4. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:
4.1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền thụ lý đúng quy định tại các điều 28, 35, 39; xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68; xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng quy định tại các từ điều Điều 93 đến Điều 97. Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196. Thời hạn chuẩn bị xét xử thực hiện đúng quy định tại Điều 203, 233.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
4.2. Ý kiến về việc giải quyết vụ việc: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56; khoản 1,2 Điều 81; khoản 1,3 Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xét xử theo hướng:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Phần Thị C2 được ly hôn với anh Lù Văn S.
- Về con chung: Giao các cháu Lù Văn Q, Lù Thị N cho anh Lù Văn S trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị C2 không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không đề cập giải quyết.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
4.3. Yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phân tích, đánh giá, nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Phần Thị C2 yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” với anh Lù Văn S có địa chỉ nơi cư trú: Thôn L, xã N, huyện V, tỉnh Lào Cai. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện V. Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hợp lệ, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị C2 và anh S là hợp pháp. Anh chị tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 5/2013, không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng đến ngày 29/7/2014 anh chị đã đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện V, tỉnh Lào Cai. Anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 8/2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống tình cảm và làm ăn kinh tế do chị C2 phải ở nhà chăm sóc các con nhỏ còn anh S đi Trung Quốc làm thuê từ tháng 02/2018 đến tháng 08/2018 thì anh S về nhà; khi về nhà anh S cho rằng chị C2 không biết kiếm tiền mà chỉ biết tiêu tiền do anh S kiếm được nên dẫn đến vợ chồng cãi chửi nhau, thỉnh thoảng anh S đánh và đuổi chị C2 ra khỏi nhà. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên anh chị đã sống ly thân từ tháng 12/2018 đến nay, không quan tâm gì đến nhau nữa. Mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã được chị C2, anh S trình bày và chính quyền địa phương xác nhận (Bút lục 40). Như vậy tình trạng hôn nhân giữa chị C2 và anh S đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.Vì vậy việc chị C2 yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.
Về nuôi con khi ly hôn: Quá trình chung sống chị Phần Thị C2 và anh Lù Văn S có hai người con chung là cháu Lù Văn Q, sinh ngày 26/6/2014 và cháu Lù Thị N, sinh ngày 27/01/2016. Từ khi anh chị sống ly thân tháng 12/2018 đến nay thì cả hai cháu ở cùng với anh S. Thu nhập của chị C2 một tháng trung bình được 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) nhưng chị đang sống nhờ nhà bố mẹ đẻ, không có tài sản gì khác ngoài thu nhập hàng tháng; thu nhập của anh S một tháng trung bình được 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng); anh S có nhà cửa để ở, có đất đai để canh tác; các cháu thì đã ở ổn định, lâu dài với anh S và cháu Q có nguyện vọng được ở với bố; tại địa phương mức nuôi dưỡng cháu Q và cháu N một tháng là 1.200.000 đồng ( Một triệu hai trăm nghìn đồng) /1 cháu; các cháu đi học được nhà nước hỗ trợ. Về thu nhập, điều kiện nuôi con đã được chị C2; anh S xác nhận và cũng đã được địa phương xác nhận (Bút lục 38, 40). Nay chị C2 và anh S đều yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh S được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Q và cháu N cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị C2, anh S đều không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung phù hợp với khoản 1,2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên cần được chấp nhận. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại khoản 1,3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị C2 và anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Chị Phần Thị C2 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lục Thị G và anh Hoàng Văn Đ. Quan hệ hôn nhân của chị Lục Thị G và anh Hoàng Văn Đ chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao con chung Hoàng Gia A, sinh ngày 23/8/2021 cho chị Lục Thị G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; giao cháu Hoàng Gia P1, sinh ngày 24/9/2016 cho anh Hoàng Văn Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Lục Thị G và anh Hoàng Văn Đ không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho chị P2.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
5. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Sầm Thị Tươi
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện V (2); - CCTHADS huyện V; - UBND xã Nàn Sán, huyện V, tỉnh Lào Cai; - Lưu: HS, THS (3). THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Phạm Ức Trai Giàng A Sủ Giải quyết yêu cầu cấp dưỡng ko được dưới ½ tháng lương tối thiểu đưa đoạn này vào bản án không phải cấp dưỡng nuôi con chung. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sầm Thị Tươi THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sầm Thị Tươi [5] Về quan hệ tài sản: Ngày 27/3/2017, chị D đã làm đơn đề nghị Toà án cho chị D được rút một phần đơn khởi kiện về quan hệ tài sản, việc rút một phần đơn khởi kiện về quan hệ tài sản của chị D là hoàn toàn tự nguyện và Tòa án đã đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu khởi kiện về quan hệ tài sản của chị D đã rút trong vụ án hôn nhân gia đình. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về quan hệ tài sản của chị D và anh D1 trong vụ án này - Xem lại có Nếu xử giao con tuyên: Giao con chung cháu Sùng Văn M1 sinh ngày 14/7/2010 cho anh Sùng S1 Xênh được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu M1 đủ 18 tuổi. Chị Giàng Thị M2 không |