- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Hạnh - Hồ Sỹ Hồng"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2025/HNGĐ - ST Ngày: 12-9-2025 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy
Các hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Thủy và Nguyễn Thị Phương
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Hoàng Phương - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 4 – Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 38/2025/TLST- HNGĐ, ngày 15 tháng7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Thôn T, xã Q, (xã Q, huyện Q cũ), tỉnh Nghệ An.
Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Hồ Sỹ H1, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Thôn T, xã Q (xã Q, huyện Q cũ), tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/7/2025, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, chị Trần Thị H trình bày:
Chị và anh Hồ Sỹ H1 tự nguyện yêu nhau và kết hôn với nhau ngày 08/2/2023, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An nay là xã Q, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh H1 thường xuyên rượu chè, bê tha, không lo làm ăn, xây dựng kinh tế gia đình, chị đã nhiều lần tha thứ, khuyên bảo anh H1 nhưng không có kết quả gì. Nên vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2025 đến nay, không quan tâm, hỏi han nhau nữa. Nay chị H xác định không còn tình cảm gì với anh H1 nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hồ Sỹ H1.
Về con chung: vợ chồng không có con chung.
Về tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Hồ Sỹ H1 nhưng anh H1 không đến Tòa án làm việc, không có bản tự khai gửi Tòa án.
Kết quả xác minh tại ông Hồ Ngọc H2 là xóm trưởng và là anh của anh Hồ Sỹ H1, cho biết: Anh H1 và chị H có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán từ năm 2023. Sau khi cưới nhau, chị H và anh H1 có mâu thuẫn như thế nào ông không được biết. Anh H1 và chị H chưa có con chung. Nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Q: Chị H và anh H1 có đăng ký kết hôn tại xã UBND xã Q, huyện Q nay là xã Q, đúng quy định pháp luật. Anh chị vẫn chưa có con chung. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn địa phương không nắm được, do không qua hòa giải tại cơ sở. Nay chị H yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn thì đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng; nguyên đơn chấp hành pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phát biểu về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án xử cho chị Trần Thị H được ly hôn anh Hồ Sỹ H1; Về con chung: Chị H anh H1 chưa có con chung; về tài sản không xem xét vì đương sự không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
Về tố tụng: Chị Trần Thị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Hồ Sỹ H1, đây là vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Anh H1 có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã Q (nay là xã Q), tỉnh Nghệ An. Căn cứ quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Nghệ An.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Hồ Sỹ H1 có đăng ký kết hôn ngày 08/02/2023 tại Ủy ban nhân dân xã Q (nay là xã Q), huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vì vậy, hôn nhân giữa chị H và anh H1 là hợp pháp, tuân thủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật.
Quá trình chung sống, theo chị H thì mâu thuẫn do anh H1 thường xuyên rượu chè, không chăm lo làm ăn, phát triển kinh tế gia đình, chị H đã tha thứ nhiều lần nhưng không có kết quả. Chị H kiên quyết ly hôn, anh H1 cũng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng, Tòa án tiến hành hòa giải nhưng anh H1 không đến. Do đó cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được, anh H1 không có nguyện vọng đoàn tụ vợ chồng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên cần xử cho chị Trần Thị H được ly hôn anh Hồ Sỹ H1 là phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình .
VÒ con chung: Chị H và anh H1 chưa có con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về tài sản: Chị H và anh H1 không yêu cầu giải quyết nên miễn xét. Nếu đương sự có yêu cầu thì Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Hồ Sỹ H1.
- Về con chung: Chị H và anh H1 chưa có con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về quan hệ tài sản: Chị Trần Thị H và anh Hồ Sỹ H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Tòa án sẽ giải quyết khi đương sự có đơn yêu cầu bằng một vụ án dân sự khác.
4. Về án phí: nguyên đơn chị Trần Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp tại Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh N theo biên lai số 0004158 ngày 15/7/2025 tại Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An.
5. Quyền kháng cáo: nguyên đơn chị Trần Thị H, bị đơn anh Hồ Sỹ H1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND Khu vực 4 – Nghệ An; - Cơ quan THADS tỉnh Nghệ An; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - UBND xã Quỳnh Phú (xã Quỳnh Thuận cũ nơi ĐKKH); - Đương sự; - Lưu HS. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Lê Thị Thanh Thủy Nguyễn Thị Phương | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy |