- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Đình Kh về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung là cháu Phạm Lê Bảo U, sinh ngày 06/12/2017.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25/3/2025 V/v “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Thuận.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bình.
2. Ông Hồ Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thảo Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Tốt - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 494/2024/TLST-HN&GĐ, ngày 09 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn ” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2025/QĐXXST-HN&GĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- NgU đơn: Anh Phạm Đình Kh, sinh năm 1992 Nơi cư trú: Số nhà 12, đường số 9, thôn 6, xã Mê Pu, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: Chị Lê Thị Mỹ H, sinh năm 1996
Nơi cư trú: Số nhà 46, đường số 3, thôn 5, xã Sùng Nhơn, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt anh Kh, chị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện lập ngày 18/11/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ngU đơn anh Phạm Đình Kh trình bày:
Anh và chị H đã ly hôn theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số: 27/2020/QĐST-HNGĐ ngày 26/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh. Theo quyết định ly hôn trên, thì về con chung: Chị Lê Thị Mỹ H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục con: Phạm Lê Bảo U, sinh ngày 06/12/2017. Anh Kh có quyền thăm nom con không ai được cản trở.
Từ khi ly hôn, chị H đi làm ăn xa không trực tiếp nuôi con mà giao cho mẹ ruột chị đã già yếu chăm sóc, nuôi dưỡng. Đến nay chị H đã lập gia đình mới và đang mang thai, không thường xU về thăm con. Nay anh nhận thấy việc tiếp tục giao cháu U cho chị H nuôi dưỡng sẽ ảnh hưởng đến việc ăn mặc, sức khỏe và học hành của con. Hiện tại anh có công việc ổn định là nghề cơ khí dân dụng (thợ sắt); anh thường làm ở Sùng Nhơn, Đakai, hoặc TP.HCM khi có công việc thu nhập trung bình 9.000.000đồng/tháng, có chỗ ở ổn định với mẹ ruột tại thôn 5, xã Mê pu và có thời gian chăm sóc cháu U. Do đó, anh khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, yêu cầu được quyền nuôi con chung tên Phạm Lê Bảo U sinh ngày 06/12/2017, anh không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. NgU nhân mà anh yêu cầu thay đổi nuôi con:
-Anh thấy rằng điều kiện kinh tế của chị H khó khăn, không đảm bảo nuôi con.
- Hiện tại chị H đã lấy chồng mới, lại đang mang thai, không chăm sóc con tốt. Tại phiên tòa anh Kh trình bày rằng: Từ nhà anh đến nhà chị H cách nhau khoảng 4km. Từ khi ly hôn năm 2020 cho đến nay (năm 2025) thì anh có xuống thăm con khoảng 5 đến 6 lần, anh có cho con 01 lốc sữa, bánh kẹo và vài trăm ngàn. Hiện tại anh đang làm công nhân tại Công Ty TNHH nhôm kính Hoàng Nam, tại TP.HCM thu nhập trung bình là 15.000.000đồng/tháng; do anh làm tại TP.HCM, công việc lại đi theo công trình nên trung bình mỗi năm anh về nhà (Mê Pu) khoảng 01 lần. Nếu Tòa án giao con U cho anh thì anh sẽ giao con cho mẹ anh ở Mê Pu trực tiếp chăm sóc, còn anh làm ở TP.HCM.
Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và và tại phiên tòa bị đơn chị Lê Thị Mỹ H trình bày: chị và anh Phạm Đình Kh kết hôn và có 01 con chung Phạm Lê Bảo U, sinh ngày 06/12/2017. Năm 2020, anh chị ly hôn, về con chung thì chị được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con Phạm Lê Bảo U, sinh ngày 06/12/2017.
Sau khi ly hôn thì chị và con U về nhà mẹ của chị ở thôn 5, xã Sùng Nhơn, tại đây chị làm công nhân cho Công ty may Thái Sơn (tại Sùng Nhơn) đến ngày 04/3/2024 chị vào Bình Dương làm công nhân, chị để cháu U ở nhà với mẹ của chị trực tiếp chăm sóc. Hàng tháng chị gửi tiền về cho mẹ của chị và chị cứ hai tuần lại về thăm con.
Từ khi ly hôn ngày 26/02/2020 đến năm 2024 thì anh Kh chỉ đến thăm con 01 lần và mua cho con 01 lốc sữa, đến giữa năm 2024 thì anh Kh nghe nói chị có bồ nên anh xuống thăm con thêm 02 lần nữa, còn lại anh Kh không hề thăm con. Từ khi ly hôn cho đến nay thì anh Kh không hề chợ cấp hoặc giúp đỡ cho chị bất cứ thứ gì để chị nuôi con nhưng chị vẫn đảm bảo nuôi con phát triển tốt về thế chất và tinh thần. Việc anh Kh và gia đình bên nội thăm con thì chị không hề cản trở, vì là con chung nên anh muốn thăm con lúc nào thì thăm.
Hiện tại chị đã đăng ký kết hôn với anh Đặng Văn Hùng ở tỉnh An Giang vào ngày 21/3/2025 và chị đang mang thai trên 5 tháng. Hiện tại, chị có công việc làm, thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi con. Do đó, chị không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của ngU đơn.
Tại phiên tòa, cháu Phạm Lê Bảo U trình bày:
Từ khi cha mẹ cháu ly hôn, thì cha cháu có xuống thăm cháu 01 lần và cho cháu 01 lốc sữa, cha cháu không hề cho tiền hoặc bánh kẹo hoặc bất cứ thứ gì khác. Trước đây thì bà nội có xuống thăm cháu vài lần nhưng sau đó không xuống thăm nữa. Hiện tại cháu có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ, cháu không muốn ở với ba, vì cháu sợ ba.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/3/2025 của bà Mai Thị Hoa là mẹ ruột của bà Lê Thị Mỹ H trình bày: Chị Lê Thị Mỹ H là con ruột của bà. Vào năm 2020, chị Lê Thị Mỹ H và anh Phạm Đình Kh ly hôn, chị H được quyền nuôi dưỡng con chung Phạm Lê Bảo U. Sau khi ly hôn, chị H cùng cháu U về sinh sống với bà tại thôn 5, xã Sùng Nhơn. Đến khoảng tháng 3/2024 thì chị H đi làm công nhân tại Bình Dương và gửi cháu U cho bà chăm sóc. Trong thời gian đi làm, chị H gửi đều đặn hằng tháng từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng để làm chi phí chăm lo cho cháu U, cách nửa tháng là chị H về thăm con một lần. Quá trình cháu U ở với bà, bà không ngăn cản hay gây khó khăn cho anh Kh và gia đình nội trong việc thăm nom con. Cháu U đang học lớp 2 tại trường tiểu học Âu Cơ tại xã Sùng Nhơn, cháu phát triển tốt, khỏe mạnh bình thường. Hiện nay bà đã được 69 tuổi, sức khỏe tốt, không đau yếu bệnh tật gì, bà được con trai trợ cấp về tiền sinh hoạt hằng tháng 5.000.000 đồng, có nơi ở ổn định nên bà có thể chăm sóc tốt cho cháu U.
-Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
+Về thủ tục: Thẩm phán thụ lý vụ án và Hội đồng xét xử, Thư ký ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện các hoạt động tố tụng để giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục quy định của của Bộ luật TTDS; NgU đơn, bị đơn đã chấp hành và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật: .
+Về quan điểm giải quyết vụ án: Từ khi ly hôn cho đến nay thì chị H vẫn nuôi con tốt về thể chất và tinh thần. Việc ánh Kh cho rằng minh có điều kiện tốt hơn là không có căn cứ. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu của anh Kh về việc thay đổi nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Trên cơ sở đơn khởi kiện, lời khai và các tài liệu chứng cứ kèm theo, ông Phạm Đình Kh khởi kiện yêu cầu giải quyết về thay đổi quyền nuôi con chung sau khi ly hôn, nên Tòa án đã xác định quan hệ “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 28 của BLTTDS 2015.
Về thẩm quyền giải quyết: Tại thời điểm ngU đơn nộp đơn khởi kiện, thì bị đơn bà Lê Thị Mỹ H đang cư trú tại thôn 5, xã Sùng Nhơn. Vì vậy Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của BLTTDS năm 2015.
Về nội dung:
: Nhận định về lời khai về công việc, thu nhập, điều kiện của anh Kh.
Trong quá trình H giải tại Tòa án, anh khai rằng: Sau khi ly hôn thì anh vẫn ở Mê Pu, anh làm nghề cơ khí dân dụng (thợ sắt), anh thường làm ở Sùng Nhơn, Đakai, hoặc TP.HCM khi có công việc thu nhập trung bình 9.000.000đồng/tháng. Tuy nhiên tại phiên tòa anh khai rằng anh đang làm cơ khí tại Công ty TNHH nhôm kính Hoàng Nam, từ năm 2022 cho đến nay. Thu nhập trung bình là 15.000.000đồng/tháng.
Hội đồng xét xử thấy rằng lời khai của anh trước và sau không thống nhất, cho thấy anh đã không thật thà khai báo về công việc hiện tại cũng như thu nhập, thực tế của bản thân anh. Anh cũng không đưa ra các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho lời khai của mình là đúng.
Ngoài việc yêu cầu thay đổi nuôi con, thì anh không đưa ra các điều kiện nào của mình là nuôi dưỡng cháu U tốt hơn chị H.
Xét lý do yêu cầu thay đổi quyền nuôi con của anh Phạm Đình Kh:
Anh Kh cho rằng chị H có kinh tế khó khăn, hiện tại chị đã lấy chồng. Vì vậy không đủ điều kiện để nuôi con là không có căn cứ bới các lẽ sau:
-Từ khi ly hôn cho đến nay thì con U là chị H trực tiếp nuôi dưỡng, cháu U phát triển tốt về thể chất và tinh thần, cụ thể cháu đang học lớp 2 trường tiểu học Âu Cơ tại xã Sùng Nhơn.
-Anh cho rằng anh làm công nhân thu nhập khoảng 15.000.000đông/tháng là có điều kiện tốt hơn chị H để nuôi con. Tuy nhiên anh không có tài liệu nào để chứng minh về thu nhập của mình.
-Thời điểm giải quyết vụ án thì cháu U đã trên 07 tuổi và tại phiên tòa cháu U có nguyện vọng được tiếp tục sinh sống với mẹ nên việc tôn trọng ý kiến, nguyện vọng của cháu là cần thiết và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81; Khoản 1 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.
Khoản 2 Điều 81 “2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”
Khoản 1 Điều 82 “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi”.
-Cháu U là cháu gái, Hội đồng xét xử thấy rằng cháu đang pháp triển về thể chất, nên rất cần sự quan tâm, chăm sóc và hướng dẫn trực tiếp của người mẹ về giới tính.
-Chỗ ở và môi trường sống: Cháu U đang học lớp 2 tại trường tiểu học Âu Cơ tại xã Sùng Nhơn rất gần nhà (cách nhà gần 1km) đã học ổn định và quen với môi trường hiện tại.
-Việc anh cho rằng chị H lấy chồng sẽ không có thời gian chăm sóc con. Hội đồng xét xử thấy rằng, đây chỉ là suy đoán của anh. Vì thực tế chị làm công nhân tại Bình Dương nhưng cứ hai tuần chị lại về thăm con 01 lần, còn bản thân anh cũng phải đi làm ở TP.HCM, cũng không trực tiếp nuôi con nhưng chỉ có khả năng về 01 lần. Như vậy điều kiện của anh không tốt hơn với điều kiện của chị H.
Từ những phân tích nêu trên, Căn cứ vào Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử không chấp nhận việc yêu cầu thay đổi nuôi con của anh Phạm Đình Kh
Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự đều không yêu cầu. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét trong bản án này.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên ngU đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Về áp dụng án lệ: Nghiên cứu tất cả án lệ do Tòa án nhân dân tối cao công bố, không có vụ nào tương tự như vụ án đang được xét xử. Vì vậy, HĐXX không áp dụng án lệ mà chỉ căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.
Xét ý kiến của Kiểm Sát Viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp vợi nội dung vụ án.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
Khoản 3 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
TU xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Đình Kh về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung là cháu Phạm Lê Bảo U, sinh ngày 06/12/2017.
2.Về án phí DSST: Anh Phạm Đình Kh phải chịu 300.000đồng án phí DSST, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Kh đã nộp là 300.000đồng theo biên lai số 005036 ngày 09/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Anh Kh đã nộp đủ án phí DSST.
3.Về quyền kháng cáo: Báo cho ngU đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tU án (25/3/2025), để tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đức Linh; - Thi hành án DS huyện Đức Linh; - Các đương sự;. -Lưu hồ sơ, quyết định./. | TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Đỗ Xuân Thuận |