vanban.org

Bản án 28/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Kha Văn L .

Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Kha Văn L ly hôn với bà Trần Hồng M . Về nuôi con chung: Giao trẻ Kha Trần Thiên A , sinh ngày 23/10/2018 cho bà Trần Hồng M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Kha Văn Lến - Trần Hồng Mi"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Kha Văn L .
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST
Ngày 05 – 8 - 2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Anh Minh

Ông Võ Sĩ Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Mai là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 05 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 378/2025/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Kha Văn L , sinh năm 1987; CCCD: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Ấp Nhàn Dân A, xã P, tỉnh C . (có mặt)

- Bị đơn: Bà Trần Hồng M , sinh năm 1992; CCCD: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: Số 124 ấp Cây Trâm, phường T , tỉnh C . (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/5/2025 trong qúa trình giải quyết và tại phiên tòa nguyên đơn ông Kha Văn Lến trình bày:

Về hôn nhân: Ông Kha Văn L và bà Trần Hồng M chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Phong, thị xã Giá Rai, tỉnh B . Trong quá trình chung sống thời gian đầu hai vợ chồng sống với nhau rất hạnh phúc nhưng về sau giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, mặc dù đã hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Nay, ông L xét thấy tình cảm không còn, đời sống vợ chồng không hạnh phúc nên ông L yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông ly hôn với bà M .

Về con chung: Kha Trần Thiên A , sinh ngày 23/10/2018, hiện con đang ở cùng bà M. Khi ly hôn ông L yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con; không đặt ra vấn đề cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Ông L trình bày không có.

Về nợ chung: Ông L trình bày không có nợ ai.

- Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa bị đơn bà Trần Hồng M trình bày:

Về hôn nhân: Về thời gian kết hôn, đăng ký kết hôn, thời gian sống và mâu thuẫn đúng như ông L trình bày. Ông L yêu cầu ly hôn với bà, bà đồng ý ly hôn với ông L .

Về con chung: Kha Trần Thiên A , sinh ngày 23/10/2018, hiện con đang ở cùng bà. Khi ly hôn bà M yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng trẻ A ; không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà M trình bày không có.

Về nợ chung: Bà M trình bày không có nợ ai và không ai nợ lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hôn nhân. Ông L với bà M kết hôn vào năm 2017, ông bà đăng ký kết hôn ngày 17/01/2017 theo giấy chứng nhận kết hôn số 02/2017 tại Uỷ ban nhân dân xã Tân Phong, thị xã Giá Rai, tỉnh B (nay xã P , tỉnh C), hôn nhân ông bà hợp pháp.

Xét ông L yêu cầu ly hôn với bà M , bà M đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông L . Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho ông L ly hôn với bà M .

[2] Về nuôi con chung: Khi ly hôn ông L và bà M đều yêu cầu được nuôi trẻ Kha Trần Thiên A , sinh ngày 23/10/2018. Xét yêu cầu nuôi con của ông bà thấy rằng, tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con...nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Viện dẫn theo điều luật trên, tại văn bản ghi nguyện vọng trẻ A ngày 21/7/2025 thể hiện, trẻ A có nguyện vọng ở với bà M . Cũng như, từ khi ông bà không chung sống cùng nhau đến nay trẻ A được bà M chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định và hiện bà M cho trẻ học lớp 2 tại Trường tiểu học Trung A . Để không làm thay đổi môi trường sống và sự phát triển ổn định về thể chất, tinh thần của trẻ A . Hội đồng xét xử thấy rằng, giao trẻ A cho bà M tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp.

Ông L có quyền, nghĩa vụ được thăm nom con chung. Trường hợp có sự ngăn cản từ phía bà M , ông L yêu cầu địa phương lập biên bản để làm căn cứ yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Về cấp dưỡng: Bà M không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Ông Lến và bà M trình bày không có.

Về nợ chung: Ông L và bà M trình bày không có.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Theo quy định: “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Do đó, ông Lến phải chịu án phí 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81; khoản 3 Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Kha Văn L .

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Kha Văn L ly hôn với bà Trần Hồng M .

2. Về nuôi con chung: Giao trẻ Kha Trần Thiên A , sinh ngày 23/10/2018 cho bà Trần Hồng M tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ông Kha Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Kha Văn L phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông L đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0007526 ngày 27/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau; ông L đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ