- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vi Văn L - Nình Móc S - Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Vi Văn L được ly hôn với chị Nình Móc S.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST Ngày: 09-5-2025 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Xuân Tuấn.
Ông Lê Xuân Nghiêm.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Lý Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Mã Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 77/2025/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 4 năm 2025, về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Vi Văn L, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Thôn K, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Nình Móc S, sinh năm 1989. Nơi cư trú cuối cùng: Thôn K, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt, do đã bị Tòa án tuyên bố mất tích.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Vi Văn L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Vi Văn L và chị Nình Móc S có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 26/9/2011 trên cơ sở tự nguyện và được sự đồng ý của hai bên gia đình tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục của địa phương. Quá trình sống chung, vợ chồng không được hạnh phúc, thường xảy ra cãi vã, bất đồng quan điểm về vấn đề kinh tế, chăm sóc con cái. Ngoài ra, chị Nình Móc S cũng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn với các thành viên khác trong gia đình bên chồng do ở chung nhà nhưng chị Nình Móc S không phụ giúp công việc nhà cửa, ruộng vườn. Mặc dù được hai bên gia đình hoà giải, nhưng vợ chồng vẫn không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Đến tháng 8 năm 2016, chị Nình Móc S bỏ đi, không có liên lạc với gia đình, không nói với ai, không báo chính quyền địa phương, cho đến hiện nay chưa về nhà. Ngày 17/3/2025, tại Quyết định số 01/2025/QĐST- DS, Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn đã tuyên bố chị Nình Móc S mất tích. Anh Vi Văn L xác định không còn tình cảm vợ chồng, yêu cầu ly hôn với chị Nình Móc S.
Về con chung: Có 01 người con chung tên là Vi Lệ Q, sinh ngày 08/5/2013. Khi ly hôn, anh Vi Văn L yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi và không yêu cầu chị Nình Móc S cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn chị Nình Móc S đã bị Tòa án tuyên bố mất tích từ ngày 17/3/2025 nên không có lời khai trong quá trình giải quyết vụ án. Tòa án căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn anh Vi Văn L cung cấp để làm căn cứ xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các trình tự thủ tục tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn đã bị tuyên bố mất tích nên không có mặt tại Toà án; ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự; các Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Vi Văn L được ly hôn với chị Nình Móc S; về con chung căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình: Giao cháu Vi Lệ Q, sinh ngày 08/5/2013 cho anh Vi Văn L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi và chị Nình Móc S không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản, nợ chung: không xem xét giải quyết. Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chị Nình Móc S, cư trú cuối cùng tại thôn K, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn nên xác định vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Vi Văn L có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Bị đơn chị Nình Móc S đã bị Tòa án tuyên bố mất tích. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Vi Văn L và chị Nình Móc S đăng ký kết hôn năm 2011 tại Uỷ ban nhân dân xã K, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Quá trình chung sống anh chị không còn yêu thương nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Vi Văn L hiện đã không còn tình cảm với chị Nình Móc S. Căn cứ quyết định số: 01/2025/QĐST- DS ngày 17/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn đã tuyên bố chị Nình Móc S mất tích, quyết định này đã có hiệu lực pháp luật và kể từ khi Tòa án thông báo thụ lý vụ án ly hôn đến ngày Tòa án mở phiên tòa chị Nình Móc S vẫn vắng mặt. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Vi Văn L, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho anh Vi Văn L được ly hôn với chị Nình Móc S.
Về con chung: Có 01 con chung là cháu Vi Lệ Q, sinh ngày 08/5/2013. Anh Vi Văn L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị Nình Móc S cấp dưỡng. Xét thấy, anh Vi Văn L đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung, có công việc làm ổn định có mức thu nhập đảm bảo để chăm sóc nuôi dưỡng con chung phát triển và trưởng thành toàn diện, hơn nữa hiện chị Nình Móc S đã mất tích, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao con chung cho anh Vi Văn L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, điều này là phù hợp với nguyện vọng của con chung. Chị Nình Móc S không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con chung. Trong thời gian anh Vi Văn L trực tiếp nuôi con mà chị Nình Móc S trở về, nếu con chung chưa đủ 18 tuổi, khi cần thiết vì lợi ích của con chung các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Vi Văn L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, anh Vi Văn L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn,để nộp ngân sách Nhà nước.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Vi Văn L được ly hôn với chị Nình Móc S.
2. Về con chung: Anh Vi Văn L và chị Nình Móc S có 01 người con chung là cháu Vi Lệ Q, sinh ngày 08/5/2013.
Khi ly hôn, anh Vi Văn L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị Nình Móc S không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản, nợ chung: Không có.
4. Về án phí: Anh Vi Văn L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm để nộp Ngân sách nhà nước; xác nhận đã thi hành đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23 số: 0005043 ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND h.Hữu Lũng, T. Lạng Sơn; - Chi cục THADS H. H, T. Lạng Sơn; - UBND xã K, h.H, T. Lạng Sơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Quốc Bảo |