- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Tuyên bố không công nhận ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị Bạch T là vợ chồng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Bạch T.
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28 /2025/HNGĐ-ST Ngày: 26-3-2025 V/v: Tranh chấp không công nhận vợ chồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo Nguyên Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hậu
Ông Trịnh Văn Đăng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 61/2025/TLST- HNGĐ ngày 03/3/2025 về “Tranh chấp không công nhận vợ chồng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Bạch T, sinh năm 1985. (có mặt)
Nơi cư trú: Tổ A, khu phố C, phường T, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1970. (xin xét xử vắng mặt)
HKTT: Số D Đ, phường A, Quận D, thành phố Hồ Chí Minh.
Chỗ ở hiện nay: Tổ A, khu phố C, phường T, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Bạch T trình bày:
Sau một thời gian quen biết, năm 2017, bà và ông Nguyễn Văn L phát sinh tình cảm yêu thương nên quyết định về sống chung với nhau. Bà và ông L sống chung như vợ chồng nhưng không tổ chức cưới hỏi, không đăng ký kết hôn vì ông bà chưa xác định kết hôn, chung sống lâu dài. Đến năm 2023 vì mâu thuẫn trong cuộc sống, tình cảm không còn nên cả hai quyết định không sống với nhau nữa.
Quá trình sống với nhau bà và ông L có một con chung, tài sản chung không có. Nay bà yêu cầu tòa án giải quyết không công nhận bà và ông Nguyễn Văn L là vợ chồng để bà có cơ sở làm các thủ tục pháp lý.
- Về con chung: Bà và ông L có 01 con chung là: cháu Phạm Nguyễn Trâm A, sinh ngày: 23/10/2017. Hiện cháu A đang ở với bà. Đề nghị tòa án giải quyết giao cho bà trực tiếp nuôi cháu Trâm A đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông L không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn L trình bày:
Ông thống nhất với nội dung bà T trình bày. Sau một thời gian quen biết, phát sinh tình cảm, năm 2017, ông bà quyết định sống chung với nhau như vợ chồng. Ông bà sống chung không tổ chức cưới hỏi, không đăng ký kết hôn vì ông bà chưa quyết định ràng buộc về hôn nhân. Đến năm 2023 vì mâu thuẫn trong cuộc sống, tình cảm không còn nên cả hai quyết định không sống với nhau. Nay theo yêu cầu của bà T, ông cũng đồng ý đề nghị tòa án không công nhận ông bà là vợ chồng.
- Về con chung: Ông và bà T có 01 con chung là: cháu Phạm Nguyễn Trâm A, sinh ngày: 23/10/2017, hiện đang ở với bà T. Ông đồng ý giao cháu Trâm A cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Xét có đủ căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Phạm Thị Bạch T khởi kiện ông Nguyễn Văn L hiện đang sinh sống tại phường T, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc tranh chấp không công nhận vợ chồng là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị Bạch T tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2017 nhưng không đăng ký kết hôn. Hai người sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do quan điểm cách sống trái ngược, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cải vã. Từ năm 2023, ộng L và bà T không còn chung sống với nhau. Nay bà T khởi kiện yêu cầu tòa án không công nhận bà và ông L là vợ chồng. Căn cứ khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị Bạch T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2017 mà không đăng ký kết hôn thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Bạch T, tuyên bố không công nhận ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị Bạch T là vợ chồng.
Về con chung: Ông L, bà T có 01 con chung là: Phạm Nguyễn Trâm A, sinh ngày: 23/10/2017. Ông bà thống nhất giao bà T trực tiếp nuôi cháu Trâm A đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), ông L không cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, sự thống nhất của ông L, bà T là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với thực tế bà T là người nuôi dưỡng cháu Trâm A từ trước đến nay. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao bà T trực tiếp nuôi cháu Trâm A đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp tiền án phí không có giá ngạch.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 14, Điều 15, Khoản 2 Điều 53, Khoản 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Bạch T.
Tuyên bố không công nhận ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị Bạch T là vợ chồng
Về con chung: Ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị Bạch T có 01 con chung là: Phạm Nguyễn Trâm A, sinh ngày: 23/10/2017, giao bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Ông Nguyễn Văn L không cấp dưỡng nuôi con.
Ông Nguyễn Văn L được quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con, nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại Khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà Phạm Thị Bạch T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0000552 ngày 26/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Mỹ. Bà T đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc tống đạt hợp lệ) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND tỉnh BR-VT; - VKSND tp. Phú Mỹ; - Chi cục THADS tp. Phú Mỹ; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Thảo Nguyên |