- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Vi Thị H ly hôn anh Vy Văn K.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2024/ST - HNGĐ Ngày 29-02-2024. V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hằng, bà Trần Thị Hạnh.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lê - Thư ký Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 02 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 176/2023/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vi Thị H, sinh năm 1985
Bị đơn: Anh Vy Văn K, sinh năm 1985
Đều có địa chỉ: Bản P, xã Y K, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Chị H có mặt, anh K vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày tại Tòa án và tại phiên tòa chị Vi Thị H trình bày: Chị với anh Vy Văn K kết hôn với nhau vào ngày 14/8/2006 tại Ủy ban nhân dân xã Y K, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến đầu năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do quan điểm sống không phù hợp, vợ, chồng không tôn trọng nhau, thường xuyên xẩy ra cái vã. Việc vợ, chồng mâu thuẫn đã được hai bên gia đình khuyên nhủ, hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Vy Văn K.
Về con chung: Chị và anh Vy Văn K có 02 người con chung với nhau là Vi Hải Đ, sinh ngày 07/9/2008 và Vi Thị Phương T, sinh ngày 02/7/2017. Nay ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cả 02 người con và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay chị và anh Vy Văn K không nợ một tổ chức hay cá nhân nào.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập anh Vy Văn K nhiều lần, nhưng anh K không có mặt vì vậy Tòa án đã tiến hành niêm yết thông báo về việc thụ lý vụ án cũng như các thủ tục tố tụng liên quan đến vụ án tại Nhà văn hóa bản P và UBND xã Y K để anh Vy Văn K biết. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa sơ thẩm anh Vy Văn K vắng mặt và không có ý kiến gì.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Áp dụng: khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho chị Vi Thị H được ly hôn anh Vy Văn K, giao 02 con chung cho chị H nuôi dưỡng, về tài sản chị H không yêu cầu nên không xem xét, chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, bị đơn có địa chỉ tại xã Y K, huyện Con Cuông nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất ngày 16/02/2024 bị đơn anh Vy Văn K vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã ra Quyết định hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa, Tòa án đã niêm yết Quyết định hoãn phiên toà, trong Quyết định hoãn phiên tòa, Tòa án có ấn định thời gian mở lại phiên tòa để anh K biết nhưng anh K vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Vy Văn K là đúng với quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Vi Thị H và anh Vy Văn K có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y K, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống do chị H và anh K không biết yêu thương, tôn trọng lấn nhau, thường xuyên xẩy ra cãi vã. Qua xác minh tại xã Y K được biết anh K đi làm ăn xa ít khi về nhà, không quan tâm đến vợ con. Theo chị H việc vợ chồng mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Xét tình cảm vợ chồng giữa chị Vi Thị H và anh Vy Văn K thật sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Vi Thị H là có căn cứ.
Về con chung: Chị Vi Thị H và anh Vy Văn K có 02 người con chung với nhau là Vi Hải Đ, sinh ngày 07/9/2008 và Vi Thị Phương T, sinh ngày 02/7/2017. Nay ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi con. Quá trình giải quyết cháu Đ có nguyện vọng được ở với mẹ. Xét nguyện vọng của chị H và cháu Đ là hợp lý, hơn nữa hiện nay anh K không có mặt tại địa phương. Để đảm bảo cuộc sống tốt nhất cho các cháu. Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao các cháu Vi Hải Đ và Vi Thị Phương T cho chị Vi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Vi Thị Huyền không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung: Chị Vi Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét và hiện nay chị không nợ một tổ chức hay cá nhân nào. Nếu sau nay anh Vy Văn K có khởi kiện thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Chị Vi Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; các Điều 81, 82, 83 và Điều 84, của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 207; 227; 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Vi Thị H ly hôn anh Vy Văn K.
Về con chung: Giao cháu Vi Hải Đ, sinh ngày 07/9/2008 và Vi Thị Phương T, sinh ngày 02/7/cho chị Vi Thị H nuôi dưỡng cho đến khi cháu Đ và cháu T đủ 18 tuổi, trưởng thành. Anh Vy Văn K có quyền thăm non, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.
Về án phí: Áp dụng điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chị Vi Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp 300.000 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000536 ngày 06/12/2023. Chị H đã nộp đủ án phí ly hôn.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NA; - VKSND tỉnh NA; - VKSND huyện Con Cuông; - Chi cục THADS huyện Con Cuông; - Nguyên đơn, bị đơn; - UBND xã Y K; - Lưu hồ sơ -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Văn Bảo |