vanban.org

Bản án 28/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 29/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn S phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55, 56; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn S 03 (ba) năm tù. Tổng hợp hình phạt với 18 tháng tù …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn S, Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn S phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HS-ST
Ngày 29 - 02-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Khải và bà Vũ Thị Kim Dung

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2024/TLST- HS ngày 24 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo:

Phạm Văn S1, sinh ngày 03/01/1995, tại Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Kỳ Thủy, xã Bích Hòa, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn V và bà Bùi Thị X; vợ: Lê Thị Thanh T1; con: 02 con; tiền sự: Không; tiền án: 01, Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 235/2023/HSST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt Phạm Văn S 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 36 tháng kể từ ngày tuyên án về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 18/9/2023, S đã thi hành xong khoản án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo S phạm tội trong thời gian chấp hành hình phạt tù 18 tháng cho hưởng án treo của bản án sơ thẩm số 235/2023/HSST ngày 14/9/2023. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

Bị hại: Anh Nguyễn Việt H1, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Hủng 1, xã Đạo Tú, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);

Người làm chứng: Ông Phùng Văn C, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ dân phố Mậu Lâm, phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn S là lái xe thuê cho chị Nguyễn Thị K ở Chung cư Gemek 1, xã An Khánh, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 16/10/2023, S điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mercedes màu trắng, BKS: 30F-837.67 chở chị K đi từ nhà ở xã An Khánh đến sân Golf Đầm Vạc thuộc xã Thanh Trù, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc để chơi Golf. Khi đến sân Golf thì chị K xuống xe để chơi Golf, S tiếp tục điều khiển xe ô tô trên đi đến xã Đồng Tĩnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc để chở mẹ đẻ và con trai của chị K đến trường học Vinhome ở phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, S một mình điều khiển xe ô tô quay lại sân Golf Đầm Vạc, đỗ xe ở khu vực dừng đỗ ô tô rồi đi bộ dọc bờ hồ trong khuôn viên sân Golf để chờ chị K. Khi S đi bộ qua chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios màu bạc, BKS: 88A- 060.32 của anh Nguyễn Việt H1 đang đỗ ở bãi đỗ xe ô tô của nhân viên sân Golf. S quan sát thấy trên mặt taplo của xe ô tô có để một chiếc ví da màu đen nên S nảy sinh ý định trộm cắp chiếc ví trên. S đi đến sát cánh cửa xe bên ghế lái, quan sát xung quanh không có người qua lại, S mở cửa thì thấy cửa không khóa nên S ngồi vào vị trí ghế lái, đóng cửa xe rồi dùng tay phải cầm chiếc ví da màu đen hình chữ nhật kích thước khoảng (20x10) cm, mở kéo khóa ví thấy bên trong ví có một tập tiền mệnh giá 500.000 đồng và 200.000 đồng được buộc dây nịt. S liền cầm tập tiền đúc vào túi quần bên trái đang mặc rồi để lại ví da lên mặt táp lô xe như vị trí ban đầu. Sau đó, S đi ra khỏi xe, đóng cửa xe ô tô rồi đi bộ xung quanh khuôn viên của sân Golf. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, S điều khiển xe ô tô, BKS: 30F- 837.67 chở chị K đến nhà khách Tỉnh ủy Vĩnh Phúc thuộc phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên để ăn trưa. Trong thời gian chờ chị K ăn trưa thì S một mình điều khiển xe ô tô đến phòng giao dịch Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, chi nhánh Vĩnh Phúc (Ngân hàng Vietcombank) trên đường Ngô Quyền, phường Ngô Quyền để chuyển số tiền vừa trộm cắp được vào tài khoản ngân hàng của S. S đưa cho nhân viên giao dịch của Ngân hàng số tiền S trộm cắp được của anh H1 là 53.100.000đ và yêu cầu chuyển toàn bộ số tiền trên vào tài khoản Ngân hàng Vietcombank số tài khoản 1028227812 của S. Sau đó, S lấy từ trong ví ở túi quần bên phải đang mặc số tiền 315 Euro và 10 Đô la Mỹ (là số tiền S được khách du lịch nước ngoài cho tặng trong quá trình đi làm thuê) rồi nhờ nhân viên giao dịch quy đổi ra tiền Việt Nam được số tiền 8.140.000 đồng để chuyển vào số tài khoản 1028227812 của S. Sau khi chuyển khoản xong, S điều khiển xe ô tô, BKS: 30F- 837.67 đi về nhà khách Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đón chị K đi về nhà ở xã An Khánh, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Buổi trưa ngày 16/10/2023, anh Nguyễn Việt H1 điều khiển xe ô tô BKS: 88A- 060.32 đi ăn trưa thì phát hiện bị mất trộm tiền trong ví da để trong xe ô tô.

Ngày 16/10/2023, anh H1 đã gửi đơn trình báo đến Công an xã Thanh Trù, thành phố Vĩnh Yên về việc anh bị kẻ gian trộm cắp mất số tiền khoảng 70.000.000đ đến 80.000.000đ để trong 01 ví da được đặt trên taplo xe ô tô, BKS: 88A – 060.32 đỗ trong bãi xe của sân Golf Đầm Vạc, xã Thanh Trù, thành phố Vĩnh Yên. Tuy nhiên, quá trình điều tra, anh H1 xin trình báo lại: Do khi phát hiện bị mất tiền, anh bị rối loạn tâm lý nên không nhớ chính xác số tiền còn lại trong ví sau khi đã mua sắm, tiêu xài cá nhân nên anh trình báo số tiền bị mất trộm khoảng 70 đến 80 triệu, nay anh H1 xác định số tiền bị trộm cắp là 53.100.000đ và khẳng định trong ví không có tiền ngoại tệ.

Ngày 16/10/2023, Phạm Văn S tự nguyện giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố Vĩnh Yên 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh; ngày 17/10/2023, S tự nguyện giao nộp số tiền 53.100.000đ để bồi thường khắc phục hậu quả cho anh H1. Ngày 16/10/2023, chị Nguyễn Thị Thu H2 là Trưởng phòng hành chính nhân sự Công ty sân Golf Đầm Vạc đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên 01 đoạn video ghi lại nội dung vụ việc trích xuất từ camera an ninh của sân Golf để phục vụ công tác điều tra.

Ngày 17/10/2023, chị Lê Thị Thanh T1 (là vợ của Phạm Văn S) tự nguyện giao nộp cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên 01 áo sơ mi dài tay màu trắng, 01 quần vải dài màu đen và 01 đôi giày thể thao màu trắng là quần áo, giày dép của Phạm Văn S mặc khi trộm cắp tài sản để phục vụ công tác điều tra.

Tại biên bản kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh của S lúc 22 giờ ngày 16/10/2023 xác định: Qua kiểm tra ứng dụng VCB DigiBank đăng nhập vào tài khoản số 1028227812 của S phát hiện số dư tài khoản là 61.247.848đ. Kiểm tra mục biến động số dư không phát hiện thông tin giao dịch chuyển khoản, nhận chuyển khoản. S cho biết, sau khi chuyển số tiền 53.100.000đ do trộm cắp được của anh H1 vào tài khoản, trước đó trong tài khoản đã có số tiền 8.247.848đ là tiền của S, còn thông tin biến động số dư S đã xóa không còn lưu giữ.

Ngày 17/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên có Công văn số 4361 gửi Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, chi nhánh Vĩnh Phúc (Phòng Giao dịch Vĩnh Yên) yêu cầu Ngân hàng cung cấp thông tin chủ tài khoản và sao kê giao dịch tài khoản số 1028227812 ngày 16/10/2023. Tại Công văn số 876 ngày 17/10/2023 của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, chi nhánh Vĩnh Phúc cung cấp thông tin khách hàng của chủ tài khoản số 1028227812, tên chủ tài khoản Phạm Văn S kèm theo 02 bản sao giấy nộp tiền ngày 16/10/2023 (vào lúc 13 giờ 02 phút S nộp vào tài khoản số tiền 53.100.000đ, vào lúc 13 giờ 26 phút nộp số tiền 8.140.000đ).

Ngày 24/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên có Quyết định Trưng cầu giám định số 661 yêu cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 đoạn video ghi lại nội dung vụ việc được lưu giữ trong USB nhãn hiệu SanDisk, được niêm phong theo quy định.

Tại Kết luận giám định số 3436/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Chụp được 10 ảnh theo nội dung yêu cầu giám định. Toàn bộ ảnh chụp và thuyết minh được in vào 01 bản ảnh giám định. 01 tệp video gửi giám định được sao lưu vào 01 đĩa DVD”. Theo đó, hình ảnh qua giám định thể hiện vào lúc 10 giờ 43 phút 12 giây ngày 16/10/2023, Phạm Văn S đi đến gần xe ô tô sáng màu, sau đó mở cửa đi vào trong xe đến 10 giờ 45 phút 31 giây cùng ngày 16/10/2023 thì S đi ra khỏi xe ô tô và tiếp tục di chuyển xung quanh khu vực có nhiều xe ô tô đang đỗ.

Tại Cáo trạng số: 23/CT-VKSNDTPVY ngày 25/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Phạm Văn S về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng.

Bị hại: Anh Nguyễn Việt H1 tại phiên tòa trình bày như nội dung bản cáo trạng nêu trên. Anh H1 yêu cầu bị cáo S phải trả cho anh số tiền 53.100.000đ. Về trách nhiệm hình sự anh H1 đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn S phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55, Điều 56; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Văn S từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Tổng hợp hình phạt với 18 tháng tù theo bản án số 235/2023/HSST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Buộc Phạm Văn S phải chấp hành hình phạt chung là 4 năm đến 4 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 16/10/2023) nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam của Bản án số 235/2023/HSST ngày 14/9/2023 (từ ngày 09/6/2023 đến 14/9/2023). Căn cứ khoản 1, 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Buộc bị cáo Phạm Văn S phải trả cho anh Nguyễn Việt H1 số tiền 53.100.000đ. Xác nhận bị cáo S đã nộp số tiền 53.100.000đ để trả lại cho anh H1.

Bị cáo Phạm Văn S không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn S tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 16/10/2023, tại bãi đỗ xe ô tô của Công ty sân Golf Đầm Vạc có địa chỉ tại xã Thanh Trù, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của chủ tài sản, Phạm Văn S đã lén lút chiếm đoạt số tiền 53.100.000đ để trong chiếc ví da trên mặt taplo xe ô tô, BKS: 88A-060.32 của anh Nguyễn Việt H1. Sau đó, S đã ra Phòng giao dịch Ngân hàng Vietcombank, chi nhánh Vĩnh Phúc ở đường Ngô Quyền, phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên để chuyển vào tài khoản cá nhân của S. Cùng ngày 16/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên triệu tập lên làm việc, S đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và tự nguyện giao nộp số tiền 53.100.000đ để trả lại cho anh H1.

Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Văn S đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có trị giá từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

c, Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000đ đến dưới 200.000.000đ;…”.

Hành vi phạm tội của bị cáo S đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an, an toàn xã hội. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo phạm tội theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có mức cao nhất của khung hình phạt tù đến 7 năm nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.

Bị cáo S là người có nhân thân xấu, bị cáo có 01 tiền án về tội: “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đang trong thời gian chấp hành hình phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo, bị cáo lại thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”. Tòa án xét xử bị cáo S về hành vi phạm tội mới sau đó tổng hợp hình phạt với 18 tháng tù cho hưởng án treo của Bản án số 235/2023/ HS- ST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội chuyển sang 18 tháng tù giam. Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Bị cáo S có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện giao nộp số tiền để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Ông nội của bị cáo là Phạm Văn H3 được Hội đồng Bộ trưởng tặng bằng khen vì đã đóng góp công sức vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự từ ngày 01/9/2013 đến ngày 25/01/2015 xuất ngũ trở về địa phương nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Căn cứ hành vi phạm tội của bị cáo cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ. Tuy nhiên, tại phiên tòa xác định bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:

Đối với số tiền 53.100.000đ, quá trình điều tra xác định: Số tiền trên là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Việt H1 bị S chiếm đoạt và nộp vào tài khoản cá nhân của S tại Ngân hàng Vietcombank. Ngày 17/10/2023, bị cáo S đã tự nguyện giao nộp số tiền trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên để trả cho anh H1 nên cần buộc bị cáo S phải trả cho anh H số tiền 53.100.000đ.

Đối với số tiền 8.140.000đ trong tài khoản Ngân hàng Vietcombank của Phạm Văn S, quá trình điều tra xác định: Số tiền trên được quy đổi từ 315 Euro và 10 Đô la Mỹ là ngoại tệ S được khách hàng nước ngoài cho S trong thời gian đi lái xe thuê. Ngày 16/10/2023, sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, S đã ra Phòng giao dịch Ngân hàng Vietcombank ở phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên nộp vào tài khoản số tiền 53.100.000đ vừa trộm cắp được của anh H1, đồng thời nhờ nhân viên Ngân hàng quy đổi số ngoại tệ trên để nộp vào tài khoản. Như vậy, số tiền 8.140.000đ là tài sản hợp pháp của S, không liên quan đến hành vi phạm tội nên không xử lý đối với số tiền trên

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh thu giữ của S, quá trình điều tra xác định: Điện thoại trên là tài sản hợp pháp của S, mua bằng tiền do lao động tích cóp mà có, sử dụng để liên lạc hàng ngày, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho S nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 áo sơ mi dài tay màu trắng, 01 quần vải dài màu đen và 01 đôi giày thể thao màu trắng là quần áo, giày dép của S sử dụng trên người khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 16/10/2023, hiện nay quần áo, giày dép đã cũ hỏng, không còn giá trị sử dụng, S không có nhu cầu nhận lại các quần áo, dày dép trên nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Việt H1 yêu cầu bị cáo S phải trả cho anh số tiền 53.100.000đ. Xác nhận bị cáo S đã tự nguyện nộp số tiền 53.100.000đ để bồi thường cho anh H1 (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 02 năm 2024 và 01 giấy nộp tiền mặt).

Về án phí: Bị cáo S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn S phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55, 56; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn S 03 (ba) năm tù. Tổng hợp hình phạt với 18 tháng tù của Bản án số 235/2023/ HS- ST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Buộc Phạm Văn S phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 16/10/2023) nhưng được trừ thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam của Bản án số 235/2023/ HS- ST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội (từ ngày 09/6/2023 đến ngày 14/9/2023).

3. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1, 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi dài tay màu trắng, 01 quần vải dài màu đen; 01 đôi giày thể thao màu trắng đã cũ, đã qua sử dụng;

Trả lại cho bị cáo Phạm Văn S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh thu giữ của S nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án;

Buộc bị cáo Phạm Văn S phải trả lại cho anh Nguyễn Việt H1 số tiền 53.100.000đ (Năm mươi ba triệu một trăm nghìn đồng). Xác nhận bị cáo S đã nộp số tiền 53.100.000đ để trả cho anh H1 (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 02 năm 2024 và 01 giấy nộp tiền mặt ngày 27/2/2024).

4.Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật án phí, lệ phí Tòa án; nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phạm Văn S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ