- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2024/HS-ST Ngày 06-03-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chìu và ông Nguyễn Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng – Thư ký TAND huyện Tứ Kỳ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Ông Vũ Hoàng Ninh- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2024/HSST ngày 07/02/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn Đ, sinh năm 2005; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn Đ, xã T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Phạm Thị T; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/12/2023 và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương đến nay, có mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Trần Đình L, sinh năm 2002;
+ Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1995;
(Người làm chứng vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do thấy có nhiều người dùng mạng xã hội Facebook có nhu cầu mua ma túy loại cỏ về sử dụng nên Trần Văn Đ nảy sinh ý định mua ma túy loại cỏ về bán cho người khác kiếm lời. Ngày 14/12/2023, Đ sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Realme loại C21Y, lắp sim số 0989.701.... của mình, đăng nhập mạng xã hội Facebook có tên tài khoản là “Văn Đ”, có địa chỉ trang cá nhân là //www.facebook.com/lgtranvanduc34 thì nhận được tin nhắn của tài khoản có tên “Phạm Văn Q” (không rõ tên, địa chỉ người sử dụng tài khoản) nhắn tin đến hỏi mua ma túy. Đ thỏa thuận bán cho người sử dụng tài khoản “Phạm Văn Q” ma túy loại cỏ với số tiền 500.000 đồng, hẹn tối ngày 16/12/2023 sẽ gặp nhau tại khu vực xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ để giao ma túy.
Chiều ngày 16/12/2023, Đ đăng nhập tài khoản Facebook “Văn Đ” và nhắn tin trên Messinger với người có tài khoản tên là “Ma Cô”, hỏi mua ma túy của người này 03 gói với số tiền 800.000 đồng và thỏa thuận khoảng 19 giờ cùng ngày gặp nhau tại khu vực cầu Niệm thuộc quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng để mua bán ma túy. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại WAVE biển số 34B2-008... đến khu vực cầu Niệm, gặp một nam giới chưa rõ tên, địa chỉ, mua của người này 03 túi nilon chứa ma túy loại cỏ với giá 800.000 đồng, Đ cất giấu ma túy mua được vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi điều khiển xe máy về khu vực xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ để bán ma túy cho người sử dụng tài khoản “Phạm Văn Q”, trên đường về, Đ làm rơi mất 01 túi ma túy. Khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, khi Đ đến khu vực cụm công nghiệp thuộc thôn V, xã N, huyện Tứ Kỳ thì bị tổ công tác Công an huyện Tứ Kỳ phối hợp với Công an xã Nguyên Giáp kiểm tra phát hiện lập biên bản vụ việc và thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của Đ 02 túi nilon có cùng kích thước (8x5)cm, bên trong chứa các sợi thực vật khô màu nâu, Đ khai nhận là ma túy loại cỏ đem đi bán cho người khác để kiếm lời. Ngoài ra cơ quan điều tra còn thu giữ của Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại WAVE biển số 34B2-008... và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme loại C21Y lắp sim số 0989.701.....
Tại bản kết luận giám định số 1040/ KL-KTHS ngày 19/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hải Phòng kết luận: Thực vật khô dạng sợi gửi giám định có tổng khối lượng 6,55 gam, tìm thấy chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA và MDMB-FUBINACA.
MDMB-4en-PINACA nằm trong danh mục chất ma túy, thuộc số tứ tự 241, danh mục IIC; MDMB-FUBINACA nằm trong danh mục chất ma túy, thuộc số thứ tự 240, danh mục IIC theo nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKSTK, ngày 06/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 24 đến 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy số ma túy được hoàn lại sau giám định được đựng 01 bì thư niêm phong, 01 sim điện thoại số 0989.701....; Tịch thu phát mại nộp vào Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Realme, loại C21Y màu đen, điện thoại đã cũ của Trần Văn Đ. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Trần Văn Đ đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, đúng như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ đã truy tố, bị cáo hối hận về hành vi của mình, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản vụ việc, biên bản khám xét, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 16/12/2023, tại khu vực cụm công nghiệp thuộc thôn V, xã N, huyện Tứ Kỳ, Trần Văn Đ có hành vi cất giấu 02 túi nilon bên trong có 6,55 gam chất dạng sợi thực vật khô màu nâu chứa chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA và MDMB-FUBINACA, mục đích để bán cho người khác kiếm lời thì bị tổ công tác thuộc Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Tứ Kỳ phát hiện, thu giữ cùng vật chứng.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song với mục đích muốn kiếm lời, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Số ma túy là loại MDMB-4en-PINACA và MDMB-FUBINACA mà bị cáo bảo Đ mang bán có khối lượng là 6,55 gam nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS, như quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Mặc dù nhận thức được ma tuý không chỉ gây tác hại rất lớn về sức khỏe cho chính người sử dụng mà còn làm ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau này, là gánh nặng cho gia đình, xã hội và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhưng vì muốn kiếm lời và ý thức coi thường pháp luật, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý theo quy định của pháp luật.
Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, song dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 túi niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hải Phòng bên trong túi niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định là 2,76 gam sợi thực vật khô có chứa chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA và MDMB-FUBINACA, bên ngoài được đóng dấu niêm phong số 1040MT/PC09 là vật cấm lưu hành; đối với 01 sim điện thoại số 0989.701.... là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu cho tiêu hủy; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme loại C21Y là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại nộp vào ngân sách nhà nước.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu HONDA loại WAVE biển số 34B2-008... là phương tiện Đ đi bán ma túy là tài sản hợp pháp của ông Trần Văn T (bố đẻ của Trần Văn Đ). Ông T không biết Đ sử dụng chiếc xe trên đi bán ma túy. Ngày 30/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ đã trả lại cho ông T là phù hợp.
Đối với người sử dụng tài khoản Facebook tên “Ma Cô” bán ma túy cho Đ, người sử dụng tài khoản Facebook tên “Phạm Văn Q” đặt mua ma túy của Đ, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không làm rõ được tên, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí : Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của BLHS;
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 21/12/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 2,76 gam sợi thực vật khô có chứa chất ma túy, loại MDMB-4en-PINACA và MDMB-FUBINACA được đựng 01 bì thư niêm phong số 1040 MT/PC09 của Công an TP Hải Phòng, phòng kỹ thuật hình sự có dấu niêm phong và chữ ký của các bên có liên quan (mẫu vật hoàn lại sau giám định), 01 sim điện thoại số 0989.701....; Tịch thu phát mại nộp vào Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động Realme, loại C21Y màu đen, điện thoại đã cũ của Trần Văn Đ.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/02/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về ... án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Trần Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 BLTTHS, Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - VKS tỉnh Hải Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - VKS, CA, THADS huyện Tứ Kỳ; - Bị cáo; - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ; Lưu vp. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Quân |