vanban.org

Bản án 28/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 21/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Việt D phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt bị cáo Trịnh Việt D 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám tháng) tính từ ngày tuyên án (21/6/2024). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Việt D - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luậ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Việt D phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 341 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOA LƯ
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HS-ST
Ngày 21-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Luân

Ông Phạm Kim Thành

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Đặng Xuân Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 27/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Trịnh Việt D, sinh năm 1991, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm T, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn Kh và bà Phạm Thị Ng; có vợ là Lê Thị Minh Th và 02 con (con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2023); tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06 tháng 02 năm 2024 cho đến nay; có mặt.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Công an huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình; địa chỉ: phố Thiên Sơn, thị trấn Thiên Tôn, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Tô Văn H - Đội trưởng đội Tổng hợp Công an huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình (văn bản uỷ quyền số 386/GUQ-CAHL ngày 24/4/2024); vắng mặt.

2. Anh Lê Xuân Ch, sinh năm 2000; địa chỉ: phố C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

3. Chị Lê Thị Minh Th, sinh năm 1993; địa chỉ: xóm T, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 27/12/2023, Đội Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội - Công an huyện Hoa Lư kiểm tra cơ sở của anh Lê Xuân Ch phát hiện anh Ch kinh doanh dịch vụ cầm đồ không có giấy phép kinh doanh và tạm giữ 04 xe mô tô trong đó có xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i biển kiểm soát (BKS) 35H1 - 000.61. Qua xác minh, phát hiện xe mô tô BKS 35H1 - 000.61 có giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Trịnh Việt D không trùng khớp với thông tin đăng ký xe tại Công an huyện Hoa Lư. Ngày 31/12/2023, Đội Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội - Công an huyện Hoa Lư chuyển toàn bộ hồ sơ và vật chứng có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoa Lư để giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoa Lư triệu tập Trịnh Việt D để làm việc. Trịnh Việt D khai nhận: đầu tháng 5 năm 2023, D nảy sinh ý định làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 35H1 - 000.61 mang tên chị Lê Thị Minh Th (là vợ của D) để khi nào cần tiền tiêu xài thì mang đi cầm cố. D sử dụng điện thoại Iphone 8 plus màu đỏ của mình vào ứng dụng Facebook đăng nhập tài khoản “Việt Dũng” tìm các trang mạng làm giấy tờ giả để đặt. Sau khi tìm được trang mạng làm giả giấy tờ (không nhớ tên tài khoản, kiểm tra điện thoại của D không thể hiện nội dung trao đổi về việc làm giấy tờ giả), D nhắn tin trao đổi trên trên nền tảng Messenger trong ứng dụng Facebook để thỏa thuận làm giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 35H1 - 000.61 mang tên của D với chi phí là 1.000.000 đồng. D đã cung cấp ảnh chụp giấy chứng nhận đăng ký xe bản gốc và tên tuổi, địa chỉ của mình, thông tin đăng ký xe mới muốn làm giả qua Messenger cho người làm giả. Khoảng 4 ngày sau, D nhận được giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 35H1 - 000.61 mang tên của D thông qua người ship hàng (không xác định được người, đơn vị vận chuyển) và cất tại gia đình. Ngày 19/12/2023, D mang xe mô tô BKS 35H1 - 000.61 và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô giả mang tên Trịnh Việt D đến nhà anh Lê Xuân Ch (là bạn bè quen biết) cầm cố để vay 40.000.000 đồng. Anh Ch yêu cầu D viết giấy bán xe cho anh Ch với giá 50.000.000 đồng (mục đích hợp thức hóa việc cầm cố do Ch không có giấy phép kinh doanh dịch vụ cầm đồ).

D đã giao nộp 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu đỏ dùng để liên hệ đặt làm giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 35H1 - 000.61 mang tên Trịnh Việt D. Cơ quan Công an thu giữ từ anh Lê Xuân Ch 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i BKS 35H1 - 000.61, 01 Đăng ký xe mô tô số 35000251 BKS 35H1 - 000.61 Trịnh Việt D, thu giữ từ chị Lê Thị Minh Th 01 Đăng ký xe mô tô số 35000251 BKS 35H1 - 000.61 mang tên Lê Thị Minh Th.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoa Lư tiến hành thu thập mẫu dấu, mẫu chữ ký và trưng cầu giám định đối với 01 Đăng ký xe mô tô số 35000251 BKS 35H1 - 000.61 mang tên Trịnh Việt D. Bản kết luận giám định số 230/KL KTHS - TL ngày 02/02/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 35000251 biển số đăng ký 35H1 - 000.61 mang tên chủ xe Trịnh Việt D, ký hiệu A1 (phôi in, hình dấu, dấu tên và chức danh được làm giả bằng phương pháp in phun màu; chữ ký được ký trực tiếp trên giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy ký hiệu A1 so với chữ ký mang tên Đàm Viết Quản trên mẫu so sánh ký hiệu M4 không phải do cùng một người ký ra.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã chuyển theo hồ sơ vụ án 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 35000251 BKS 35H1 - 000.61 mang tên Trịnh Việt D; chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoa Lư quản lý 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu đỏ, bên trong lắp sim số 0822155383, số máy MRT92ZD/A, số seri F17X7912JWLM, mật khẩu mở máy 011193 và trả lại cho chị Th 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH125i BKS 35H1 - 000.61, 01 đăng ký xe mô tô số 35000251 BKS 35H1 - 000.61 mang tên Lê Thị Minh Th. Trịnh Việt D đã trả cho anh Ch số tiền vay là 40.000.000 đồng. Anh Ch, chị Th không có yêu cầu đề nghị gì.

Bản cáo trạng số 21/CT-VKSHL ngày 24/4/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư truy tố bị cáo về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1, 4 Điều 341 của Bộ luật Hình sự (BLHS). Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng khoản 1, 4 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng thù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án; phạt tiền bổ sung từ 10 đến 15 triệu đồng; áp dụng khoản 2 Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo và buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi nêu trên, không tranh luận với luận tội của đại diện Viện Kiểm sát, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về tội danh: bị cáo Trịnh Việt D là người đã thành niên, nhận thức rõ việc sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức bị pháp luật nghiêm cấm nhưng đầu tháng 5 năm 2023, thông qua mạng xã hội facebook, D đã đặt làm giả 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 35000251, BKS 35H1-00.61 mang tên Trịnh Việt D sau đó dùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô giả để cầm cố xe mô tô BKS 35H1-00061 của chị Lê Thị Minh Th cho anh Lê Xuân Ch lấy số tiền 40.000.000 đồng tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm khoản 1, 4 Điều 341 của BLHS như Cáo trạng đã truy tố.

Ngoài tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có căn cứ để khởi tố bị cáo về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1, 5 Điều 174 của BLHS. Quá trình chuẩn bị xét xử, Toà án nhân dân huyện Hoa Lư đã trả hồ sơ điều tra bổ sung để khởi tố vụ án “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo. Tuy nhiên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư giữ nguyên Cáo trạng số 21/CT-VKSHL ngày 24/4/2024, chỉ truy tố bị cáo về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm khoản 1, 4 Điều 341 của BLHS. Do giới hạn của việc xét xử quy định tại khoản 1 Điều 298 của BLTTHS nên HĐXX tiến hành xét xử đối với bị cáo về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm khoản 1, 4 Điều 341 của BLHS.

“Điều 341. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

“1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

…….

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước. Để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù đối với bị cáo. Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên cần cho bị cáo hưởng án treo, cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương. Ngoài ra, cần áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: xe mô tô BKS 35H1 - 000.61 là tài sản riêng của chị Lê Thị Minh Th. Chị Th không biết việc Trịnh Việt D dùng giấy tờ giả để cầm cố chiếc xe mô tô cho anh Ch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoa Lư đã trả lại xe mô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe cho chị Th nên HĐXX không giải quyết đối với các tài sản này. Chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoa Lư, điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Kiến nghị của HĐXX đối với hành vi chiếm đoạt tài sản: D đã dùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô giả mang tên của D làm cho anh Ch tin xe mô tô BKS 35H1-00061 là tài sản của D nên đã cho D vay tiền 02 lần tổng cộng là 40.000.000 đồng. Do vậy, cần phải xác định hành vi của D có dấu hiệu của tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của BLHS. HĐXX kiến nghị Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư khởi tố vụ án “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với D.

Các vấn đề khác: Lê Xuân Ch cho D vay tiền lãi xuất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày tương đương với mức lãi xuất 108%/năm, vượt quá 05 lần mức lãi xuất quy định tại Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, số tiền Ch thu lời bất chính chưa cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự. Hành vi kinh doanh cầm đồ không có giấy phép của Lê Xuân Ch, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Hoa Lư đã ra quyết định xử phạt hành chính là đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Việt D phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Căn cứ vào khoản 1, 4 Điều 341, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Trịnh Việt D 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám tháng) tính từ ngày tuyên án (21/6/2024).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.

2. Xử lý vật chứng: căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước chiếc điện thoại Iphone 8 plus thu giữ của bị cáo.

(chiếc điện thoại có đặc điểm như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hoa Lư và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoa Lư)

3. Án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến bản án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ