- Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyen tien bo - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến B;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2024/HS-PT Ngày 22-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diệp.
Các Thẩm phán: Ông Trần Quốc Vũ
Ông Nguyễn Quốc Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phố, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Út N - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 31/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Tiến B do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Tiến B, sinh năm 1981, tại tỉnh Cà Mau; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: khu phố N, phường M, thị xã M, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng N (đã chết) và bà Huỳnh Thị N; vợ là Nguyễn Thị X; con: có 04 người; người lớn nhất sinh năm 2004, người nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/11/2023 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, vụ án còn có bị hại không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do mâu thuẫn trong quá trình bán trái cây, vào khoảng 11 giờ ngày 11/8/2023, Nguyễn Tiến B và anh Lê Ngạn L đã xảy ra gây gổ và xô xát với nhau, được mọi người can ngăn. Khoảng 14 giờ cùng ngày, trong lúc uống bia cùng với người tên D (không rõ địa chỉ, là bạn của B), Bộ kể lại sự việc bị anh L đánh cho D nghe và rủ D cùng đi đánh anh L thì D đồng ý.
Đến khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, D điều khiển xe môtô chở B cầm theo 01 cây dao tự chế dài khoảng 60cm, có lưỡi bằng kim loại đi tìm anh L. Khi đến khu vực cổng số 7 Khu công nghiệp Trảng Bàng thuộc khu phố M, phường N, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, B nhìn thấy anh L đang đứng bán trái cây nên kêu D dừng xe lại, cách chỗ anh L khoảng 05m; B xuống xe, cầm dao tự chế chạy đến chỗ anh L. Thấy vậy, anh L bỏ chạy, được khoảng 30m thì té ngã, nằm ngửa trên đường; B chạy đến, cầm dao tự chế bằng tay phải, chém từ trên xuống 01 cái trúng vào gót chân trái và 03 cái trúng vào tay trái của anh L gây thương tích rồi bỏ đi. Trên đường về, B vứt cây dao tự chế vào bụi cây ven đường. Riêng anh L được người dân đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa Xuyên Á Tây Ninh đến ngày 22/8/2023 thì xuất viện. Ngày 25/8/2023, anh L làm đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Tiến B về hành vi cố ý gây thương tích.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 243/KLTTCT-TTPYTN ngày 30/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Tây Ninh kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Ngạn L tại thời điểm giám định là 14%.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 09/2024/HS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến b phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến B 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, các biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 24 tháng 01 năm 2024, bị cáo Nguyễn Tiến B có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến B, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Giữa bị cáo và anh L chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong quá trình bán trái cây và tức giận do từng bị anh L đánh, bị cáo đã trực tiếp dùng dao tự chế dài khoảng 60cm, có lưỡi bằng kim loại là hung khí nguy hiểm chém anh L gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 14%. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Tiến B về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng quy định pháp luật.
Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác trái pháp luật, thể hiện tính côn đồ, gây mất trật tự trị an ở địa phương nên cần có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Tiến B, Hội đồng xét xử, thấy rằng: Khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại. Mức án 02 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo; mặt khác, bị cáo kháng cáo cũng không cung cấp tình tiết mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Từ những phân tích trên, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến B; chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí phúc thẩm do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến B;
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 16-01-2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
2. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến B 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 590, 593 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Tiến B có nghĩa vụ bồi thường cho anh Lê Ngạn L số tiền 85.076.000 (tám mươi lăm triệu, không trăm bảy mươi sáu nghìn) đồng. Ghi nhận bị cáo đã bồi thường 15.000.000 đồng, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho anh L số tiền 70.076.000 (bảy mươi triệu, không trăm bảy mươi sáu nghìn) đồng.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Tiến B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 (TANDTC); - VKSND. TTN; - TAND thị xã Trảng Bàng; - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng; - Công an thị xã Trảng Bàng; - Phòng PV 06 CATTN; - Phòng lý lịch STP. TTN; - Phòng KTNV. TATTN; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án HSPT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Diệp |