vanban.org

Bản án 28/2024/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hoàng Thị T; Chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Đỗ Việt D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị T -Hoàng Thị T ly hôn"
  • Tòa quyết gì? về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ M’GAR
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST
Ngày 29 – 05 – 2024
“V/v: Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Tha.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Duy Thanh.

2. Bà Nguyễn Thị Hoài Bão.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM’Gar, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Châu – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện CưM’gar xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 41/2024/TLST – HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 03 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 17/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị T – Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Ông Đỗ Việt D – Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn A, xã E'đing , huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn Hoàng Thị T trình bày:

Chị Hoàng Thị T và anh Đỗ Việt D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 27/10/2015 tại Ủy ban nhân dân xã E’đing, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chính là do anh D không lo làm ăn, không quan tâm, chăm sóc vợ con, vợ chồng không chia sẻ, cảm thông cho nhau nên mẫu thuẫn ngày càng trầm trọng. Từ năm 2019 đến nay vợ chồng không còn chung sống với nhau nữa. Nay chị T thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không còn tồn tại. Vì vậy, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Đỗ Việt D.

Về con chung: Chị T và anh D có 01 con chung là cháu Đỗ Hoàng A, sinh ngày 14/4/2016, cháu A khỏe mạnh và phát triển bình thường. Chị T đang trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu A. Chị T có nguyện vọng được nuôi cháu A đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Việc cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu giải quyết.

Hiện nay chị T làm nghề buôn bán với thu nhập mỗi tháng khoảng 15.000.000 đồng, thu nhập ổn định, đảm bảo chăm sóc cháu tốt cả về vật chất lẫn tinh thần.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Đỗ Việt D đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai và hòa giải được.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án;

Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị T. Chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Đỗ Việt D.

Về con chung: Giao cháu Đỗ Hoàng A, sinh ngày 14/4/2016 cho chị Hoàng Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.

Về án phí: đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết là tranh chấp về hôn nhân gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Hoàng Thị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn Đỗ Việt D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị T và anh Đỗ Việt D tự nguyện đăng ký kết hôn ngày ngày 27/10/2015 tại Ủy ban nhân dân xã E’đing, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng chị T, anh D thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh D không lo làm ăn, không quan tâm, chăm sóc vợ con, vợ chồng không chia sẻ, cảm thông cho nhau nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Từ năm 2019 đến nay vợ chồng không còn chung sống với nhau nữa. Tình trạng mâu thuẫn giữa chị T và anh D không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn ly hôn của nguyên đơn Hoàng Thị T.

Về con chung: Chị T và anh D có 01 con chung là cháu Đỗ Hoàng A, sinh ngày 14/4/2016. Cháu A khỏe mạnh và phát triển bình thường, nguyện vọng của chị T là được nuôi dưỡng cháu A đến khi cháu đủ 18 tuổi. Trong quá trình giải quyết vụ án anh D không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập. Do vậy, Tòa án không ghi nhận ý kiến của anh D về nguyện vọng nuôi con. Xét yêu cầu của đương sự, nguyện vọng của cháu A là được chị T chăm sóc, nuôi dưỡng; đồng thời, điều kiện để chăm sóc con của chị T tốt hơn anh D. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu A cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 Nghị quyết quy định

về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hoàng Thị T;

Chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Đỗ Việt D.

Về con chung: Giao cháu Đỗ Hoàng A, sinh ngày 14/4/2016 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2021/0014883, ngày 26/01/2024 của chi cục Thi hành án dân sự huyện CưM’gar.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ