- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ- Bà Võ Thị Kiều M và ông Lưu Văn Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Kiều M về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn ông Lưu Văn Đ như sau:
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29-3-2024 V/v: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Lê.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tống Văn Tâm
2. Ông Nguyễn Thanh Cần.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 396/2023/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Kiều M, sinh năm 1997; nơi thường trú: Tổ 6, khu phố T, xã A, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nơi tạm trú: Nhà trọ Đức Th, tổ 3, khu phố M, phường H, thành phố U, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Lưu Văn Đ, sinh năm 1990; nơi thường trú: Tổ 1, ấp A, xã Y, huyện U, tỉnh Kiên Giang; nơi tạm trú: Nhà trọ Kim L, tổ 4, khu phố M, phường H, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 10 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Võ Thị Kiều M trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Kiều M và ông Lưu Văn Đ quen biết nhau một thời gian thì tiến tới hôn nhân; có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện G, tỉnh Kiên Giang và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 52/2016, ngày 04/7/2016. Thời gian đầu mới kết hôn vợ chồng sống rất hạnh phúc, cùng nhau lo làm ăn, xây dựng kinh tế gia đình. Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Mâu thuẫn nhiều nhất là đầu năm 2023. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, luôn bất đồng quan điểm, vợ chồng không tôn trọng, thương yêu nhau, không tin tưởng nhau, ghen tuông vô cớ, cuộc sống vợ chồng trở nên ngột ngạt và vợ chồng đã ly thân từ đó. Hiện nay, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà M yêu cầu được ly hôn với ông Đ.
+ Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lưu Minh Th, sinh ngày 25/3/2015. Hiện tại, con chung đang sống với bà M. Khi ly hôn, bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung; yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) cho tới khi con đủ 18 tuổi.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Lưu Văn Đ đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chuyển giao tài liệu, chứng cứ nguyên đơn khởi kiện, thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng ông Đ không đến Tòa án, cũng không nộp văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Theo biên bản xác Minh của Ủy ban nhân dân phường và Công an phường H thể hiện: Ông Lưu Văn Đ, sinh năm 1990; nơi thường trú: Tổ 1, ấp A, xã Y, huyện U, tỉnh Kiên Giang có đăng ký tạm trú tại: Nhà trọ Kim Liên, tổ 4, khu phố M, phường H, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Cho đến nay địa phương không nhận được tin báo hay đơn yêu cầu giải quyết mâu thuẫn của vợ chồng bà Võ Thị Kiều M và ông Lưu Văn Đ nên địa phương không rõ vợ chồng bà M và ông Đ có mâu thuẫn như thế nào.
Theo bản tự khai ngày 17/01/2024 của cháu Lưu Minh Th trình bày: Nếu cha mẹ ly hôn, cháu Thcó nguyện vọng được sống với mẹ là bà Võ Thị Kiều M.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên phát biểu tại phiên tòa:
- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên.
- Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xác Mnh thu thập, hòa giải được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của người tham gia tố tụng, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên: về quan hệ hôn nhân: bà Võ Thị Kiều M được ly hôn với ông Lưu Văn Đ; về con chung: giao con chung tên Lưu Minh Th, sinh ngày 25/3/2015 cho bà M được trực tiếp nuôi dưỡng; ông Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) cho tới khi con đủ 18 tuổi; về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không yêu cầu hội đồng xét xử đặt ra xem xét.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Võ Thị Kiều M có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lưu Văn Đ và yêu cầu được quyền nuôi con sau khi ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Theo lời trình bày của các đương sự và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn ông Lưu Văn Đ hiện đang cư trú tại phường Thái Hoà, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Về việc vắng mặt của các đương sự: Bị đơn ông Lưu Văn Đ được triệu tập tham gia giải quyết vụ án nhưng có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Kiều M và ông Lưu Văn Đ là những người đủ điều kiện kết hôn; chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu để tiến tới hôn nhân; có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện G, tỉnh Kiên Giang và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 52/2016, ngày 04/7/2016. Theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.
Về mâu thuẫn vợ chồng: Bà Võ Thị Kiều M xác định cuộc sống hôn nhân giữa bà M và ông Lưu Văn Đ không còn hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Mâu thuẫn trầm trọng vào đầu năm 2023, nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, luôn bất đồng quan điểm, vợ chồng không tôn trọng, thương yêu nhau, không tin tưởng nhau, ghen tuông vô cớ. Vợ chồng ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Hai bên đã đưa ra nhiều giải pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không đạt kết quả nên bà M khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Đ.
Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Đ vẫn không đến Tòa án, cho thấy ông Đ không muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Về phía bà M, trong quá trình tố tụng xác định hoàn toàn không còn tình cảm với ông Đ và không thể tiếp tục chung sống với ông Đ. Xét thấy, quan hệ hôn nhân tồn tại bền vững dựa trên tình cảm của vợ chồng, sự yêu thương, thủy chung, chăm sóc lẫn nhau giữa vợ và chồng nhưng quan hệ hôn nhân của bà M và ông Đ đã không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Do đó, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà M và ông Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà M có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Đ là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng bà M và ông Đ có 01 người con chung tên Lưu Minh Th, sinh ngày 25/3/2015. Khi ly hôn, bà M yêu cầu được nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, hiện tại cháu Th đang do bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu Th có nguyện vọng được sống với bà M. Do vậy, yêu cầu được nuôi con của bà M là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Bà M yêu cầu ông Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Lưu Minh Th, sinh ngày 25/3/2015 mỗi tháng 2.500.000 đồng cho tới khi con chung đủ 18 tuổi.
Theo Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con …”.
Xét thấy, bà M yêu cầu ông Đ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.500.000 đồng là phù hợp với nhu cầu thiết yếu của con chung ở độ tuổi này, phù hợp với quy định tại Điều 110 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 228, 266, 271 và điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83, 84, 85 và điều 86 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, Mễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Kiều M về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn ông Lưu Văn Đ như sau:
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Kiều M được ly hôn với ông Lưu Văn Đ.
1.2 Về con chung: Giao con chung tên Lưu Minh Th, sinh ngày 25/3/2015 cho bà Võ Thị Kiều M được trực tiếp nuôi dưỡng.
Bà Võ Thị Kiều M và ông Lưu Văn Đ đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
1.3 Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Lưu Văn Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Lưu Minh Th, sinh ngày 25/3/2015 mỗi tháng là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) cho tới khi con đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán số tiền phải thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành.
1.4 Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm:
- Bà Võ Thị Kiều M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0008251 ngày 24/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Ông Lưu Văn Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Tân Uyên; - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên; - Các đương sự; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Võ Thị Lê |