- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H-T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim H đối với ông Lê Thanh T1.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST Ngày: 14/3/2024 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V,
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trịnh Thị Thường
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Hà Văn Trường
Ông Hồ Sĩ Tiến
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Lương Ngọc T – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 812/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12A/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1992. (có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Địa chỉ 201/9 đường C, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Bị đơn: Ông Lê Thanh T1, sinh năm 1988. (vắng mặt lần thứ 2 không có lý do)
Địa chỉ: Thôn C, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình làm việc nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H trình bày:
Bà và ông và anh Lê Thanh T1 chung sống với nhau từ năm 2015, có tổ chức đám cưới và được hai bên gia đình đồng ý, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và không bị ép buộc.
Sau khi kết hôn, bà và ông T1 có 01 (một) con chung tên là: Lê Tuấn Đ, sinh ngày 23/11/2020.
Trong quá trình sống chung giữa bà H và ông T1 phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm với nhau, vợ chồng cãi nhau nhiều lần, tình cảm vợ chồng không còn thương yêu như trước. Cuộc sống vợ chồng sống không hạnh phúc, không có niềm tin vào nhau. Bà H và ông T1 đã cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được. Hiện nay bà H và ông T1 đã sống ly thân nhau.
Nay, nhận thấy cuộc sống chung không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:
1.Về ly hôn: Bà H yêu cầu ly hôn với ông Lê Thanh T1.
2. Về con chung: Bà H có nguyện vọng nuôi cháu Lê Tuấn Đ, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Lê Thanh T1, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Do công việc của bà H không thể xin nghỉ làm nên bà H làm Đơn đề nghị giải quyết vắng mặt tại phiên tòa.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà H có Đơn xin giải quyết vắng mặt tại phiên tòa là có lý do chính đáng; ông T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến làm việc, vắng mặt 02 (hai) lần không có lý do nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà H và ông T2 là phù hợp quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố V. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Kim H yêu cầu ly hôn với ông Lê Thanh T1 có địa chỉ đăng ký thường trú tại thành phố V. Căn cứ Điều 28; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là vụ án “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Thanh T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Nguyên đơn có Đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Kim H và ông Lê Thanh T1 là phù hợp quy định pháp luật.
. Về nội dung:
Bà Nguyễn Thị Kim H và ông Lê Thanh T1 tự nguyện tìm hiểu, chung sống có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét về tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông T1 thì thấy: Theo bà H thì nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm với nhau, vợ chồng cãi nhau nhiều lần, tình cảm vợ chồng không còn thương yêu như trước. Cuộc sống vợ chồng sống không hạnh phúc, không có niềm tin vào nhau. Từ đó làm cho mâu thuẫn vợ chồng càng trở nên trầm trọng. Hiện nay, bà H và ông T1 đã sống ly thân với nhau. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không còn sự quan tâm, chăm sóc đến nhau.
Theo xác minh tại địa phương cho biết: Quá trình bà Nguyễn Thị Kim H và ông Lê Thanh T1 sinh sống tại địa phương có phát sinh mâu thuẫn, nhưng nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể thì địa phương không nắm được; hiện nay bà H và ông T1 đã sống ly thân nhau.
Xét thấy, mâu thuẫn xảy ra trong quan hệ vợ chồng giữa ông là có thật, vợ chồng cũng cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, không có khả năng hàn gắn tình cảm. Do vậy, mâu thuẫn hôn nhân là trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T2 là phù hợp.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kim H và ông Lê Thanh T1 có 01 (một) con chung là cháu Lê Tuấn Đ, sinh ngày 23/11/2020. Bà H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ, bà H không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con; để tránh cuộc sống hiện tại của cháu Đ không bị xáo trộn, không làm ảnh hưởng đến tâm lý và việc học tập của cháu, nên cần tiếp tục giao cháu Đ cho bà H được quyền nuôi dưỡng đến trưởng thành, bà H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
.Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19; Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim H đối với ông Lê Thanh T1.
1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim H ly hôn với ông Lê Thanh T1.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kim H và ông Lê Thanh T1 có 01 (một) con chung là cháu Lê Tuấn Đ, sinh ngày 23/11/2020. Giao cháu Đ cho bà H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, bà H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, ông Lê Thanh T1 được quyền thăm nom chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002262 ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố V.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND Tp.V; - TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; - Chi cục THADS Tp.V; - Các đương sự; - UBND xã L, Tp.V; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thường |