- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị Mai Lan xin ly hôn anh Nguyễn Hữu Việt"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của Chị Trần Thị Mai L, tuyên xử:
- Căn cứ chính? Bộ luật tố tụng dân sự qui định; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25- 7 - 2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Sơn
Bà Nguyễn Kim Oanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 50/2024/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/7/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Mai L, sinh năm 1999;
Địa chỉ: Thôn , xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội, có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu V, sinh năm 1997;
Địa chỉ: Thôn 5, xã T, huyện P, Thành phố Hà Nội, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và các lời khai, nguyên đơn chị Trần Thị Mai L trình bày: Chị và anh Nguyễn Hữu V kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, Thành phố Hà Nội vào ngày 21/10/2022.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà anh V ở thôn 5, xã T, huyện P, Thành phố Hà Nội. Đến khoảng tháng 3 năm 2023 vợ chồng về nhà chị ở thôn L, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội sinh sống. Trong thời gian sinh sống ở thôn L, xã H, huyện C, anh V thường xuyên về thôn 5, xã T, huyện Phúc Thọ sinh sống. Mỗi lần anh V về thôn 5, xã T, huyện P, chị không liên lạc được với anh V , anh V đi đâu chị cũng không biết. Đến tháng 6 năm 2023 chị có thai nên vợ chồng về thôn 5, xã T, huyện P sinh sống. Trong thời gian này anh V thường ở nhà vài tiếng vào ban ngày, còn ban đêm đi vắng, anh V đi đâu, làm gì chị không biết. Anh V không quan tâm đến chị. Mỗi lần nói chuyện vợ chồng lại cãi nhau do bất đồng quan điểm. Chị muốn tâm sự, chia sẻ vui buồn với chồng nhưng anh V không muốn nghe chị nói. Tháng 9 năm 2023, sau khi chị sinh con, chị ở gia đình chồng 12 ngày thì xin phép về nhà bố mẹ đẻ của chị ở thôn L, xã H , huyện C sinh sống. Trong thời gian chị và con ở nhà bố mẹ đẻ của chị, anh V ít quan tâm đến vợ, con. Ngày 18/11/2023 anh V đón mẹ con chị về thôn 5, xã T, huyện P sinh sống. Ngay chiều ngày 18/11/2023 anh V không ở cùng mẹ con chị mà bỏ nhà đi đâu đến chiều hôm sau mới về. Anh V đi đâu chị không biết. Chị cảm thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống được với nhau nên ngày 19/11/2023 chị và con lại về nhà bố mẹ chị tại thôn L, xã H , huyện C sinh sống. Vợ chồng ly thân từ tháng 9 năm 2023 đến nay. Trong thời gian vợ chồng ly thân, anh V thỉnh thoảng gọi điện hỏi thăm con nhưng không đón gọi mẹ con chị về chung sống. Trước đây chị đã một lần làm đơn xin ly hôn anh V , anh V đồng ý ly hôn nhưng chị không gửi đơn đến Tòa án. Trong thời gian chung sống vợ chồng không hợp nhau về tính cách, lối sống và bất đồng quan điểm. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh V nên chị xin ly hôn anh V .
Về con chung: Chị và anh V có một con chung là cháu Nguyễn Trần Hà V, sinh ngày 08/9/2023. Khi ly hôn chị có nguyện vọng nuôi cháu Nguyễn Trần Hà V. Chị không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị và anh V không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công sức với hai bên gia đình, về nợ: Chị và anh V không có công sức và không có nợ chung.
- Bị đơn anh Nguyễn Hữu V từ khi thụ lý vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt.
Tại phiên tòa, chị Trần Thị Mai L giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh Nguyễn Hữu V và xin được nuôi con chung. Anh Nguyễn Hữu V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án là đúng trình tự, đúng qui định pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhận định giữa chị Trần Thị Mai L và anh Nguyễn Hữu V tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 51, Điều 56; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử cho chị Trần Thị Mai L được ly hôn anh Nguyễn Hữu V; giao con chung là cháu Nguyễn Trần Hà V cho chị Trần Thị Mai L nuôi. Chị L không yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh V . Về tài sản và nợ chị L xác định không có nên không đề nghị giải quyết. Chị L phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Trần Thị Mai L có đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn anh Nguyễn Hữu V có địa chỉ cư trú tại thôn 5, xã T, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội. Đây là quan hệ pháp luật ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội.
Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Hữu V nhưng anh V cố tình vắng mặt không đến Tòa án. Vì vậy, căn cứ vào Điều 220 và khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa, anh Nguyễn Hữu V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt, không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Nguyễn Hữu V theo trình tự, thủ tục Bộ luật tố tụng dân sự qui định.
Về nội dung vụ án: Chị Trần Thị Mai L và anh Nguyễn Hữu V kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội vào ngày 21/10/2022 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp theo qui định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
Sau khi kết hôn, chị L và anh V chung sống hạnh phúc được một khoảng thời gian, đến tháng 9 năm 2023 thì vợ chồng mâu thuẫn, mâu thuẫn trầm trọng từ ngày 19 tháng 11 năm 2023. Chị L sinh sống tại thôn L, xã H , huyện C, Thành phố Hà Nội, còn anh V sinh sống tại thôn 5, xã T, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội. Vợ chồng ly thân, ít quan tâm đến nhau. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng đối với anh V không còn nên xin ly hôn anh V .
Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập nhiều lần nhưng anh Nguyễn Hữu V không có quan điểm, không đến Tòa án để giải quyết vụ việc. Điều đó thể hiện anh V không có thiện chí và mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Xét thấy, cuộc sống chung vợ chồng giữa chị Trần Thị Mai L và anh Nguyễn Hữu V đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không còn tồn tại và mục đích quan hệ hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị L về việc xin ly hôn anh V .
Về con chung: Chị Trần Thị Mai L và anh Nguyễn Hữu V có một con chung là cháu Nguyễn Trần Hà V, sinh ngày 08/9/2023. Khi ly hôn chị L yêu cầu được nuôi cháu Vy. Xét cháu Vy dưới 36 tháng tuổi, hiện nay chị L đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, để đảm bảo điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng con chung và phù hợp với điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao con chung là cháu Nguyễn Trần Hà V cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng là hợp lý. Chị Trần Thị Mai L không yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Nguyễn Hữu V cho đến khi chị L có yêu cầu hoặc khi có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Anh Nguyễn Hữu V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, công sức với hai bên gia đình, nợ chung: Chị Trần Thị Mai L xác định không có tài sản, công sức và nợ chung. Quá trình giải quyết Tòa án không lấy được ý kiến của anh V nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về tài sản chung, công sức và nợ chung của chị L và anh V .
Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Mai L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chị Trần Thị Mai L và anh Nguyễn Hữu V có quyền kháng cáo bản án theo qui định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của Chị Trần Thị Mai L, tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Mai L được ly hôn anh Nguyễn Hữu V.
2. Về con chung: Chị Trần Thị Mai L và anh Nguyễn Hữu V có một con chung là cháu Nguyễn Trần Hà V, sinh ngày 08/9/2023.
Giao cháu Nguyễn Trần Hà V cho chị Trần Thị Mai L nuôi cho đến khi cháu Vy đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Chị Trần Thị Mai L không yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Nguyễn Hữu V cho đến khi chị L có yêu cầu hoặc khi có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Anh Nguyễn Hữu V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, công sức với gia đình và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Án phí: Chị Trần Thị Mai L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013142 ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội.
5. Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Mai L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Anh Nguyễn Hữu V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo qui định của pháp luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND Thành phố Hà Nội;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND huyện Phúc Thọ;
- CCTHADS huyện Phúc Thọ;
- UBND xã T, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đặng Thị Dung
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Phúc Thọ; - CCTHADS huyện Phúc Thọ; - UBND xã T, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đặng Thị Dung |