vanban.org

Bản án 28/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Lệ H đối với anh Nguyễn Anh T. Chị Bùi Lệ H được ly hôn với anh Nguyễn Anh T.

2: Về con chung: Không có nên HĐXX không xem xét giải quyết. 3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên HĐXX không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Lệ H đối với anh Nguyễn Anh T. Chị Bùi Lệ H được ly hôn với anh Nguyễn Anh T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 07/6/2024
V/v: tranh chấp HNGĐ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Minh Lý

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tuấn Trung

2. Bà Nguyễn Thị Chuyên

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Tuyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương tham gia phiên tòa: Ông Lương Dương T Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 64/2024/TLST - HNGĐ, ngày 22 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 09 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Bùi Lệ H, sinh năm 1979;

ĐKHK: Số Nhà 10, tổ 3, phố 9, thị trấn Cao Lộc, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

Bị đơn: Anh Nguyễn Anh T, sinh năm 1987;

ĐKHK: Tổ 3, Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Hiện anh T đang cải tạo tại: Phân trại số 4, Trại giam Phú Sơn 4, Cục C10 Bộ Công an.

( Chị H và anh T có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, chị Bùi Thị H trình bày:

Chị kết hôn với anh Nguyễn Anh T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 17/11/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T mải chơi không tu chí làm ăn, năm 2022 anh T vi phạm pháp luật. Vợ chồng sống ly thân trước khi anh T đi cải tạo tại Trại giam. Trong thời gian ly thân cuộc sống vợ chồng không hàn gắn được, không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên kiên quyết xin được ly hôn với anh Nguyễn Anh T.

- Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết;

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết;

* Bị đơn anh Nguyễn Anh T trong quá trình tố tụng trình bày:

Anh kết hôn với chị H năm 2020, có Đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc. Quá trình chung sống vợ chồng không phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh phạm tội phải đi chấp hành án nên tình cảm vợ chồng xa cách. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị H có đơn xin ly hôn anh hoàn toàn nhất trí.

- Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T trình bày bản thân đang phải chấp hành án nên anh T từ chối tham gia phiên họp và phiên hòa giải và có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh tại các phiên họp, phiên tòa. Anh T hoàn toàn nhất trí với các tài liệu, chứng cứ mà chị H đã nộp cho Tòa án, không có bất cứ yêu cầu gì, không có khiếu nại gì.

Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Do vậy vụ án được đưa ra xét xử công khai.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương , tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết vụ án theo luật định.

- Về nội dung: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Lệ H. Cho chị H ly hôn anh T.

+Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết;

+Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết;

+ Về án phí: Chị Bùi Lệ H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

+ Tuyên về quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

- Chị Bùi Lệ H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc xin ly hôn với anh Nguyễn Anh T, hiện anh T đang cải tạo trại giam Phú Sơn 4 thuộc địa phận xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương , tỉnh Thái Nguyên.

- Chị H và anh T đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

. Về nội dung:

2.1: Về quan hệ hôn nhân:

Chị Bùi Lệ H và anh Nguyễn Anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 17/11/2020. Đây là hôn nhân tự nguyện, không vi phạm các điều cấm của pháp luật. Do đó, hôn nhân của chị H và anh T là hợp pháp, Nên được pháp luật bảo vệ.

Lý do chị Hàng xin ly hôn với anh T là do vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T chơi bời, vợ chồng mâu thuẫn. Chị H đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh T không nghe dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân trước khi anh T đi cải tạo tại Trại giam.

Anh T cũng thừa nhận, sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc một thời gian đầu. Đến năm 2022 do anh không tu chí làm ăn, dẫn đến việc phạm tội phải đi chấp hành án. Vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay chị H xin ly hôn anh hoàn toàn nhất trí.

Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng đã ở tình trạng trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung vợ chồng không tồn tại nên chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị H được ly hôn với anh T là phù hợp với thực tế và quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

2.1: Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

2.3: Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

Xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Bùi Lệ H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ pháp luật:

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

2. Tuyên xử:

2.1: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Lệ H đối với anh Nguyễn Anh T. Chị Bùi Lệ H được ly hôn với anh Nguyễn Anh T.

2.2: Về con chung: Không có nên HĐXX không xem xét giải quyết.

2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên HĐXX không xem xét giải quyết.

3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Bùi Lệ H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0004584 ngày 22/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Chị Bùi Lệ H, anh Nguyễn Anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ