- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ Đắc Ngọc A - Phan Phúc L"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN TỈNH BÀ RỊA -VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST Ngày 10-6-2024 Về: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Thanh Trúc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hồng Sơn
Bà Nguyễn Thị Di
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Tín, thư ký Tòa án nhân dân
huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 105/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024, về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXX-ST ngày 02 tháng 5 năm 2024; quyết định hoãn phiên tòa số: 33A/QĐH ngày 17-5-2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hồ Đắc Ngọc A, sinh năm 1986; địa chỉ: B ấp P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Ông Phan Phúc L, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ A khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt lần 2 không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 4 năm 2024 và quá trình tố tụng tại tòa bà Hồ Đắc Ngọc A trình bày: Tôi và ông Phan Phúc L có tìm hiểu và kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức kết hôn theo truyền thống và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Sau khi kết hôn thời gian đầu cuộc sống vợ chồng chúng tôi thuận hòa, hạnh phúc. Sau đó vợ chồng chúng tôi phát sinh mâu thuẫn, chồng tôi là ông Phan Phúc L đã ngoại tình với người khác và tôi đã có nhiều chứng cứ về việc ông L ngoại tình, cách đây 03 năm trước tôi đã phát hiện và đã làm đơn ly hôn nhưng vì muốn cho chồng tôi một cơ hội để sửa chữa nên đã rút đơn, nhưng ông L vẫn chứng nào tật nấy vẫn không biết hối cãi, vẫn đi ngoại tình. Mặc dù tôi đã cố gắng để hàn gắn, gia đình hai bên cũng đã can thiệp để đoàn tụ với nhau, nhưng giữa chúng tôi mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không còn níu giữ được nữa. Đến nay vợ chồng chúng tôi phải sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nay chúng tôi xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay tôi viết đơn này khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi ly hôn với chồng tôi là ông Phan Phúc L.
Về con chung: Chúng tôi không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: chúng tôi không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Từ khi thụ lý Toà án đã triệu tập ông L đến Tòa để giải quyết ly hôn nhưng ông L nhiều lần vắng mặt không có lý do nên không xác định rõ yêu cầu.
Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: quá trình thụ lý, thu thập chứng cứ Thẩm phán và nguyên đơn tuân theo quy định của pháp luật. Bị đơn không tuân theo quy định của pháp luật.
Tại phiên xét xử, Hội đồng xét xử, thư ký và nguyên đơn tuân theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 3, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, quá trình tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Hồ Đắc Ngọc A yêu cầu ly hôn ông Phan Phúc L, xác định quan hệ tranh chấp là ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông L hiện đang sinh sống tại huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Phan Phúc L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
Về nội dung:
Xét về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Đắc Ngọc A và ông Phan Phúc L sống chung từ năm 2012, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên hôn nhân giữa bà A và ông L là hôn nhân hợp pháp. Theo bà A xác nhận: Cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc. Nguyên nhân: Do ông L có quan hệ ngoại tình với người khác dẫn đến việc vợ chồng tự sống ly thân đến nay. Nay bà A nhận thấy không còn tình cảm đối với ông L nên yêu cầu được ly hôn. Về phía ông L, mặc dù đã được Tòa án thông báo đến Tòa để giải quyết ly hôn nhưng không có ý kiến phản hồi, chứng tỏ ông L không muốn duy trì cuộc sống chung với bà A, trên thực tế thì vợ chồng tự sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Xét thấy, hôn nhân của 2 người lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà A yêu cầu ly hôn có cơ sở, xét chấp nhận.
Xét về con chung: không có nên không xét.
Tài sản chung và nợ chung: Bà A không yêu cầu nên không xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 19, Điều 56, Điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hồ Đắc Ngọc A đối với ông Phan Phúc L.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Đắc Ngọc A được ly hôn ông Phan Phúc L.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà A không yêu cầu Tòa án không xem xét giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Hồ Đắc Ngọc A nộp 300.000(Ba trăm ngàn) đồng nhưng được trừ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004439 ngày 04-4-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Điền. Bà A đã nộp xong án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt quyền kháng cáo bản án 15 ngày tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh BR-VT; - Viện kiểm sát ND h.Long Điền; - Thi hành án dân sự h.Long Điền; - UBND thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (Đăng ký số 306/2012 ngày 12-10-2012); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Thị Thanh Trúc |