- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa nguyên đơn Lô Thị H và bị đơn Lữ Văn P"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lô Thị H được ly hôn anh Lữ Văn P;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST Ngày 11 tháng 4 năm 2024 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hữu Lộc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1, Ông Moong Văn Vũ.
2, Bà Thái Thị Ly.
- Thư ký phiên tòa: Ông Quang Thái Tài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Hoàng Anh Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 04 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 03 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lô Thị H, sinh năm 1995;
Nơi cư trú: bản B2, xã TC, huyện KS, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện tại: Bản Nhãn Cù, xã TC, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Lữ Văn P, sinh năm 1986;
Nơi cư trú: bản B2, xã TC, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 01 năm 2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án chị Lô Thị H trình bày: Chị Lô Thị H và anh Lữ Văn P tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã TC, huyện KS, tỉnh Nghệ An vào ngày 24/5/2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do tính cách vợ chồng không hòa hợp luôn bất đồng quan điểm, vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay. Thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn nên chị Lô Thị H đã khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lữ Văn P.
Về con chung: Chị Lô Thị H và anh Lữ Văn P có 02 con chung là cháu Lữ Thái S, sinh ngày 27/10/2015 và cháu Lữ Thái D, sinh ngày 07/09/2017. Nay ly hôn, chị Lô Thị H yêu cầu được nuôi dưỡng và chăm sóc con chung, không yêu cầu anh Lữ Văn P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và khoản nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Lữ Văn P trong quá trình giải quyết vụ án anh công việc bận rộn không thể có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ việc được nên đã có đơn xin xét xử vắng mặt về việc yêu cầu ly hôn của chị Lô Thị H, các lời khai của anh Lữ Văn P như sau: Anh Lữ Văn P và chị Lô Thị H tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã TC, huyện KS, tỉnh Nghệ An vào ngày 24/5/2013 việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng sau này tính tình không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn nên thống nhất về việc ly hôn của chị Lô Thị H.
Về con chung: Anh Lữ Văn P và Chị Lô Thị H có 02 con chung là cháu Lữ Thái S, sinh ngày 27/10/2015 và cháu Lữ Thái D, sinh ngày 07/09/2017. Anh Lữ Văn P đồng ý với việc cho chị Lô Thị H nuôi con và không có ý kiến gì về vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và khoản nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81,82,83 và 84 Luật hôn nhân gia đình để xử cho chị Lô Thị H và anh Lữ Văn P được ly hôn nhau; về con chung: Giao các cháu Lữ Thái S, sinh ngày 27/10/2015 và cháu Lữ Thái D, sinh ngày 07/09/2017 cho chị Lô Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Lữ Văn P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở đánh giá khách quan các chứng cứ và lời trình bày của đương sự trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng: Chị Lô Thị H yêu cầu ly hôn với anh Lữ Văn P có Hộ khẩu thường trú tại bản B2, xã TC, huyện KS, tỉnh Nghệ An nên căn cứ theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt các quyết định của Tòa án. Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng đầy đủ, tuy nhiên bị đơn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Nguyên đơn chị Lô Thị H và bị đơn anh Lữ Văn P đều có đơn xin xét xử vắng mặt Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của chị Lô Thị H là đúng quy định tại Điều 207 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự
Về hôn nhân: Chị Lô Thị H và anh Lữ Văn P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp, hiện nay chị Lô Thị H yêu cầu được ly hôn với anh Lữ Văn P; Hội đồng xét xử nhận thấy rằng vợ chồng sống không hạnh phúc, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Như vậy chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần quyết định cho chị Lô Thị H và anh Lữ Văn P được ly hôn nhau.
Về con chung: Chị Lô Thị H và anh Lữ Văn P có 02 con chung là cháu Lữ Thái S, sinh ngày 27/10/2015 và cháu Lữ Thái D, sinh ngày 07/09/2017. Nay ly hôn, chị Lô Thị H có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh Lữ Văn P cấp dưỡng nuôi con, anh Lữ Văn P cũng đồng ý với ý kiến của nguyên đơn. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao hai con chung là cháu Lữ Thái S, sinh ngày 27/10/2015 và cháu Lữ Thái D, sinh ngày 07/09/2017 cho chị Lô Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Lữ Văn P.
Về tài sản và các khoản nợ: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Đây là vụ án về ly hôn, chị Lô Thị H là nguyên đơn nên phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu nộp án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lô Thị H được ly hôn anh Lữ Văn P;
2. Về con chung: Giao các cháu Lữ Thái S, sinh ngày 27/10/2015 và cháu Lữ Thái D, sinh ngày 07/09/2017 cho chị Lô Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Lữ Văn P.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm non chăm sóc con, người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con.
Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí: Buộc chị Lô Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo liên lai số 0001023 ngày 19/02/2024 tại Chi cục thi hành án huyện KS, tỉnh Nghệ An.
5. Về quyền kháng cáo: Tuyên bố nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tóa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện KS; - Chi cục THADS huyện KS; - UBND xã TC, huyện KS; - Lưu hồ sơ; VP.TA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Hữu Lộc |