vanban.org

Bản án 28/2024/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/03/2024 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Quốc D.

Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát sửa một phần bản án theo nội dung Quyết định kháng nghị số: 11/QĐ-VKS-HNGĐ ngày 10/10/2023 của Viện kiếm sát nhân dân huyện L, Thành phố Hồ Chí Minh. Ghi nhận sự tự thoả thuận của các đương sự như sau: Giao hai trẻ tên Nguyễn Quốc B, sinh ngày 21/11/2017 và Ngu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Quốc D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 06-03-2024
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Duyên.

Các Thẩm phán:

1/ Bà Đặng Thị Bích Loan.

2/ Bà Lưu Thị Thủy Tiên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Nguyễn Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý – Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2024/TLPT-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Do bản án sơ thẩm số 874/2023/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện L, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 769/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 02 năm 2024; giữa:

- Nguyên đơn: Bà Chau Kim Sa M, sinh năm 1997; Thường trú: D18/35 Ấp C, xã K, huyện L, Thành phố Hồ Chí Minh; Cư trú: Ấp E, xã N, huyện P, tỉnh Q. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc D, sinh năm 1992; Địa chỉ: D18/35 Ấp C, xã K, huyện L, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

- Người kháng cáo: Bị đơn – ông Nguyễn Quốc D.

- Kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm nội dung vụ án như sau:

Bà Chau Kim Sa M và ông Nguyễn Quốc D tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2015, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện L, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 200, quyển số 01/2015 cấp ngày 13/11/2015. Thời gian đầu, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, nhưng sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hòa hợp. Vợ chồng thường hay gây gổ, không có sự tôn trọng và thương yêu, chăm sóc lẫn nhau. Ông D không lo làm ăn và chăm lo cho gia đình; dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Cả hai đã sống ly thân từ đầu năm 2023. Nay bà M nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông D.

Về con chung: Có 02 con chung tên là Nguyễn Quốc A, sinh ngày 13/10/2016 và Nguyễn Quốc B, sinh ngày 21/11/2017. Bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 trẻ A và trẻ B; không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà M xác nhận không có.

Bị đơn ông Nguyễn Quốc D trình bày:

Ông D xác nhận những lời trình bày của bà M về quan hệ hôn nhân là đúng. Sau khi vợ chồng về chung sống với nhau thì phát sinh mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn hòa hợp, cuộc sống không có hạnh phúc. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên ông D đồng ý ly hôn với bà M.

Về con chung: Ông D yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 trẻ Nguyễn Quốc A và trẻ Nguyễn Quốc B; không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông D xác nhận không có.

Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 874/2023/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện L, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ các khoản Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 69; Điều 71, Điều 81, 82, 83, 84, 85, 86; Điều 107; Điều 110; Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

I. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Chau Kim Sa M đối với ông Nguyễn Quốc D.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Chau Kim Sa M được ly hôn với ông Nguyễn Quốc D.

Giấy chứng nhận kết hôn số 200, quyển số 01/2015 đăng ký ngày 13 tháng 11 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện L, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà bà Chau Kim Sa M và ông Nguyễn Quốc D không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Giao các trẻ Nguyễn Quốc A, sinh ngày 13/10/2016 và Nguyễn Quốc B, sinh ngày 21/11/2017 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông D khi có đơn yêu cầu.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 05/10/2023, bị đơn ông Nguyễn Quốc D kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị được là người được tiếp tục trực tiếp nuôi con là hai trẻ Nguyễn Quốc B, sinh ngày 21/11/2017 và Nguyễn Quốc A, sinh ngày 13/10/2016 với lý do ông là người có điều kiện về môi trường sinh sống và học tập tốt hơn bà Chau Kim Sa M và không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con.

Ngày 10/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị bản án với nội dung: Toà cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp chưa đầy đủ và chưa xem xét đến điều kiện hiện tại của cả hai vợ chồng ông D, bà M trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng hai trẻ về môi trường sống, điều kiện học tập gây sự xáo trộn, ảnh hưởng đến sự đến sự phát triển toàn diện về mọi mặt của các trẻ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn - ông Nguyễn Quốc D xác định yêu cầu kháng cáo của ông là đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng giao trẻ hai trẻ Nguyễn Quốc B, sinh ngày 21/11/2017 và Nguyễn Quốc A, sinh ngày 13/10/2016 cho ông là người tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng vì hiện nay bà M không có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai trẻ B, A như ông; cụ thể ông là người trực tiếp nuôi dưỡng cả hai trẻ từ nhỏ, hiện hai trẻ đang học tại trường gần nhà của ông, bên cạnh ông còn có gia đình hỗ trợ tích cực, rất thuận tiện cho việc chăm sóc, giáo dục cho các trẻ phát triển theo hướng tốt nhất, còn bà M không có nơi ở ổn định, hiện đã về Q không còn chung sống với gia đình của ông tại Thành phố Hồ Chí Minh nữa nên việc giao cho bà M là người trực tiếp nuôi dưỡng các trẻ B, A sẽ làm xáo trộn tình cảm, cuộc sống, sinh hoạt hiện tại, sự học tập cũng như ảnh hưởng đến tâm lý phát triển bình thường hiện nay của các trẻ.

Nguyên đơn - bà Chau Kim Sa M đồng ý để cho ông D được tiếp tục là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai trẻ B, A để việc học hành của các trẻ không bị gián đoạn vào thời điểm này, đồng thời ông D phải tạo điều kiện cho bà M tới lui thăm nom, chăm sóc các trẻ, nếu ông D không thực đúng bà M sẽ khởi kiện xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau.

Ông Nguyễn Quốc D và bà Chau Kim Sa M đã tự thoả thuận được như sau: Nay bà Chau Kim Sa M đồng ý để cho ông Nguyễn Quốc D là người trực tiếp nuôi dưỡng hai trẻ Nguyễn Quốc B, sinh ngày 21/11/2017 và Nguyễn Quốc A, sinh ngày 13/10/2016 đồng thời ông D phải tạo điều kiện cho bà M tới lui thăm nom, chăm sóc các trẻ, nếu ông D không thực hiện đúng bà M sẽ khởi kiện xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau, các phần quyết định khác như quan hệ hôn nhân, tài sản chung đều thông nhất với bản án toà cấp sơ thẩm đã tuyên. Đề nghị Hội đồng xét xử bản án sơ thẩm theo hướng giao các trẻ B, A cho ông D là người trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án; Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo qui định của pháp luật.

Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Quốc D và Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Thành phố Hồ Chí Minh làm trong hạn luật định nên được chấp nhận.

Về nội dung: Việc chăm sóc, nuôi dưỡng và học hành cũng như sự phát triển tâm sinh lý dài lâu đặc biệt là trẻ nhỏ, việc giao các trẻ trên cho cha hay mẹ là người trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn dựa trên cơ sở sự yêu thương chăm sóc, điều kiện kinh tế, môi trường sống, điều kiện học tập để đảm bảo sự phát triển tốt nhất về mọi mặt cho các trẻ nhỏ, nay cả bà Chau Kim Sa M và ông Nguyễn Quốc D đã thoả thuận được với nhau về việc giao các con chung cho ông D là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các trẻ B, A để không làm ảnh hưởng, gián đoạn việc học hành cũng như gây sự xáo trộn đột ngột cuộc sống của các trẻ nhỏ vào thời điểm này là phù hợp pháp luật và đạo đức xã hội, nghĩ nên ghi nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận đơn kháng cáo của ông Nguyễn Quốc D; Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Thành phố Hồ Chí Minh; Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của bà Chau Kim Sa M và ông Nguyễn Quốc D, ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của ông D, sửa bản án sơ thẩm số 874/2023/HNGĐ-ST ngày 27/9/2023 của Toà án nhân dân huyện L, Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Quốc D có đơn kháng cáo yêu cầu được giao hai trẻ Nguyễn Quốc B, sinh ngày 21/11/2017 và Nguyễn Quốc A, sinh ngày 13/10/2016 cho ông tiếp tục là người trực tiếp nuôi dưỡng hai trẻ vì bà M hiện không có điều kiện kinh tế, chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai trẻ, cụ thể từ trước đến nay ông là người trực tiếp nuôi dưỡng cả hai trẻ từ nhỏ, ông có công việc và kinh tế ổn định, bên cạnh đó ông luôn được sự hỗ trợ tích cực của gia đình ông trong việc cùng chăm sóc, nuôi dưỡng các trẻ, hiện hai trẻ đang học tại trường gần nhà rất thuận tiện cho việc chăm sóc, giáo dục cho các trẻ phát triển theo hướng tích cực nhất. Bà M hiện đã về Q không còn chung sống với gia đình của ông D tại Thành phố Hồ Chí Minh nữa nên việc giao cho bà M là người trực tiếp nuôi dưỡng các trẻ B, A đột ngột sẽ làm xáo trộn cuộc sống, sinh hoạt và học tập hiện tại của các cháu cũng như ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý bình thường của các trẻ.

Viện kiểm sát kháng nghị với nội dung: Cấp sơ thẩm chưa xem xét đến điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và học tập hiện tại của hai trẻ B, A của cả hai vợ chồng ông D, bà M nên giao cả hai trẻ cho bà M là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, sự thay đổi đột ngột về môi trường sống, điều kiện học tập sẽ gây sự xáo trộn, ảnh hưởng đến sự đến sự phát triển toàn diện về mọi mặt của các trẻ B, A và xác định quan hệ tranh chấp chưa đầy đủ là có thiếu sót cần sửa bản án sơ thẩm theo hướng phân tích trên.

Xét đơn kháng cáo của ông Nguyễn Quốc D và Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Thành phố Hồ Chí Minh làm trong hạn luật định, phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng Dân sự, phạm vi xét xử phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, các vấn đề khác không có kháng cáo kháng nghị, cấp phúc thẩm không xét.

Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Quốc D và Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Thành phố Hồ Chí Minh:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông D và Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện L trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại Điều 272; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đương sự có kháng cáo đã nộp đủ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Nguyễn Quốc D và Quyết định, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Lời trình bày của ông D- cha của hai trẻ Nguyễn Quốc B, Nguyễn Quốc A cho rằng ông người có đầy đủ điều kiện về kinh tế cũng như chăm sóc, nuôi dưỡng tốt nhất cho cả hai trẻ vì từ trước đến nay ông là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai trẻ, hiện hai trẻ đang theo học tại trường gần nhà, rất thuận tiện cho việc chăm sóc, đưa đón các trẻ hàng ngày, trẻ B và A sống bên cạnh nhau từ nhỏ nên việc thay đổi đột ngột hay tách rời hai trẻ vào thời điểm này sẽ ảnh hưởng đến việc phát triển tâm sinh lý của các trẻ, ngoài ra ông còn có gia đình hỗ trợ tích cực trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng các trẻ từ trước đến nay, bà M hiện ở đã về quê ở tỉnh Q sinh sống không còn ở cùng gia đình không tại Thành phố Hồ Chí Minh nên bà M hiện không có đủ điều kiện chăm sóc hai trẻ tốt hơn ông vào thời điểm này.

Hội đồng xét xử xét thấy việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là trách nhiệm chung của cả cha và mẹ, việc xin là người trực tiếp nuôi con sau ly hôn xuất phát từ tình yêu thương và trách nhiệm đối với con, tuy nhiên việc giao con chưa thành niên đặc biệt là trẻ nhỏ cho ai là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng phải căn cứ về quyền lợi mọi mặt của con trẻ, trong vụ án này cả hai trẻ đều còn nhỏ nên việc giao trẻ cho cha hay mẹ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng phải căn cứ trên hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của từng gia đình. Trong trường hợp này, cả hai trẻ B và A đều là trẻ nam được sinh cách nhau cách nhau chỉ có vài tháng tuổi, sinh sống bên cạnh nhau từ nhỏ nên việc tách rời hai trẻ vào thời điểm này sẽ ảnh hưởng đến việc phát triển tâm sinh lý của các trẻ như lời trình bày của ông D là phù hợp và có cơ sở, ngoài ra ông D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai trẻ từ nhỏ, hiện có công việc và chỗ ở ổn định tại Thành phố Hồ Chí Minh, cả hai trẻ đang học gần nhà tại Thành phố Hồ Chí Minh nên cũng thuận lợi hơn trong việc đưa đón, chăm sóc, nuôi dạy các trẻ theo hướng phát triển tốt nhất cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng và học hành cũng như sự phát triển tâm sinh lý dài lâu đặc biệt là trẻ nhỏ được pháp luật quan tâm bảo vệ. Bà M hiện không còn sinh sống, làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh nên sẽ bất tiện hơn trong việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các trẻ theo sự phát triển tốt nhất vào thời điểm hiện tại.

Tại cấp phúc thẩm, ông D cung cấp thêm giấy xác nhận của Hiệu trưởng trường tiểu học Ngô Quyền xác nhận cả hai trẻ Nguyễn Quốc B, sinh ngày 21/11/2017 và trẻ Nguyễn Quốc A, sinh ngày 13/10/2016 hiện đang học tại trường thể hiện môi trường sống và học tập của các trẻ đang được đảm bảo và ổn định. Tại bản tự khai do trẻ Nguyễn Quốc A viết ngày 04/3/2024 cũng có nguyện vọng được ở cùng ba và bà nội.

Do vậy, yêu cầu kháng cáo xin được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng hai trẻ tên Nguyễn Quốc B, sinh ngày 21/11/2017 và trẻ Nguyễn Quốc A, sinh ngày 13/10/2016 của ông Nguyễn Quốc D là có cơ sở để được chấp nhận.

Theo Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện L thì cấp sơ thẩm chưa xác định đầy đủ quan hệ tranh chấp trong vụ án; Chưa xem xét đến điều kiện thật tế của cả hai vợ chồng ông D, bà M trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng hai trẻ về môi trường sống, điều kiện học tập gây sự xáo trộn, ảnh hưởng đến sự đến sự phát triển toàn diện về mọi mặt của các trẻ và xác định quan hệ tranh chấp chưa đầy đủ là có thiếu sót, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng sửa bản án sơ thẩm trong việc tuyên giao hai trẻ A, B cho bà M là có căn cứ và phù hợp pháp luật nghĩ nên ghi nhận.

Tại phiên toà phúc thẩm, ông Nguyễn Quốc D và bà Chau Kim Sa M đã tự thoả thuận được như sau: Nay bà Chau Kim Sa M đồng ý để cho ông Nguyễn Quốc D là người trực tiếp nuôi dưỡng hai trẻ Nguyễn Quốc B, sinh ngày 21/11/2017 và Nguyễn Quốc A, sinh ngày 13/10/2016 đồng thời ông D phải tạo điều kiện cho bà M tới lui thăm nom, chăm sóc các trẻ, nếu ông D không thực hiện đúng bà M sẽ khởi kiện xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau, các phần quyết định khác như quan hệ hôn nhân, tài sản chung đều thống nhất với bản án toà cấp sơ thẩm đã tuyên. Đề nghị Hội đồng xét xử bản án sơ thẩm theo hướng giao các trẻ B, A cho ông D là người trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn là phù hợp pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, nghĩ nên ghi nhận.

Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của ông D được chấp nhận nên ông D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 300, Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 69; Điều 71, Điều 81, 82, 83, 84, 85, 86; Điều 107; Điều 110; Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Quốc D.

2. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát sửa một phần bản án theo nội dung Quyết định kháng nghị số: 11/QĐ-VKS-HNGĐ ngày 10/10/2023 của Viện kiếm sát nhân dân huyện L, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Ghi nhận sự tự thoả thuận của các đương sự như sau: Giao hai trẻ tên Nguyễn Quốc B, sinh ngày 21/11/2017 và Nguyễn Quốc A, sinh ngày 13/10/2016 cho ông Nguyễn Quốc D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của ông Nguyễn Quốc D.

4. Sửa một phần bản án sơ thẩm số 874/2023/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện L, Thành phố Hồ Chí Minh.

4.1. Về hôn nhân: Bà Chau Kim Sa M được ly hôn ông Nguyễn Quốc D.

Giấy chứng nhận kết hôn số 200, quyển số 01/2015 đăng ký ngày 13 tháng 11 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện L, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà bà Chau Kim Sa M và ông Nguyễn Quốc D không còn giá trị pháp lý.

4.2. Về con chung: Giao trẻ hai trẻ tên hai trẻ Nguyễn Quốc B, sinh ngày 21/11/2017 và Nguyễn Quốc A, sinh ngày 13/10/2016 cho ông Nguyễn Quốc D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi các con chung của ông Nguyễn Quốc D.

Cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.

4.3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4.4. Về nợ chung: Không có.

5. Về án phí:

5.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Chau Kim Sa M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2021/0042912 ngày 11/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà M đã nộp đủ tiền án phí.

5.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Quốc D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) mà ông D đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số: AA/2023/0020416 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự đươc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ