vanban.org

Bản án 28/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Srisawad đối với anh Phạm Văn T. Buộc anh Phạm Văn T giao trả cho Công ty Srisawad số tiền tổng số tiền 20.360.000đ (tính đến ngày 15/8/2023) và tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng cầm cố đã ký cho đến khi dứt nợ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản — án dân sự — "SRISAWAD - Phạm Văn Tiến"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG H
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/DS - ST
Ngày: 29/5/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
cầm cố tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG H, TỈNH B

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị N.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Hoàng và bà Cao Thị Lệ Pha

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Anh là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông H, tỉnh B.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông H tham gia phiên toà: Ông Lê Quốc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 366/2023/TLST – DS, ngày 20 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXX-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH Srisawad Việt Nam;

Địa chỉ: Số 128 Nguyễn Du, phường Bến Thuỷ, thành phố Vinh, Nghệ An.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Phát Tài, chức vụ: Nhân viên (theo văn bản ủy quyền ngày 02/5/2024)

Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 2000;

Địa chỉ thường trú: ấp C, xã L, huyện Đông H, tỉnh B.

(Đại diện công ty Srisawad có đơn đề nghị vắng mặt, anh T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 15/8/2023 cùng các lời khai trong quá trình tố tụng, đại diện Công ty Srisawad trình bày:

Vào ngày 28/12/2022 anh Phạm Văn T có ký hợp đồng cầm cố chiếc xe nhãn hiệu HONDA Airblade 125cc Fi màu bạc xanh đen, biển kiểm soát 94B1-461.98, số giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy 037808 do công an tỉnh B cấp, anh T cầm cố với số tiền 15.400.000đ, lãi suất 1,1%/tháng. Khi nhận cầm cố xe của anh T thì giấy tờ xe công ty SRISAWAD quản lý. Tuy nhiên, do anh T không có phương tiện đi lại, nên anh T có thỏa thuận với công ty SRISAWAD là mượn lại chiếc xe nói trên, phí mượn xe là 3,5%/tháng đối với số tiền 15.400.000đ. Thời hạn mượn xe từ ngày 28/12/2022 đến ngày 28/01/2023. Cứ mỗi tháng thì anh T phải đến công ty trả tiền lãi, thì công ty sẽ công chứng tiếp tục giấy tờ xe cho anh T sử dụng, mỗi lần công chứng chỉ có giá trị trong vòng 01 tháng. Trong quá trình cầm cố xe anh T chưa trả số tiền nào.

Do trong thời gian cầm cố xe anh T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên công ty khởi kiện đến Tòa án.

Công ty yêu cầu anh T giao trả số tiền vốn 15.400.000 đồng, lãi 1.186.000 đồng, phí mượn xe 3.774.000 đồng, phí theo dõi hàng tháng 300.000đ/tháng, tổng số tiền 22.460.000 đồng (tính đến ngày 15/8/2023) và yêu cầu tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng cầm cố đã ký cho đến khi dứt nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty SRISAWAD xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền phí theo dõi hàng tháng là 2.100.000đ, chỉ yêu cầu số tiền 20.360.000đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông H, tỉnh B phát biểu quan điểm cho rằng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 309, Điều 310, Điều 311, Điều 316 và 494 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Srisawad đối với anh Phạm Văn T.

Buộc anh Phạm Văn T giao trả cho Công ty Srisawad số tiền tổng số tiền 20.360.000đ (tính đến ngày 15/8/2023) và tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng cầm cố đã ký cho đến khi dứt nợ.

Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của Công ty Srisawad, yêu cầu anh Phạm Văn T giao trả số tiền 2.100.000đ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty Srisawad không phải nộp án phí. Số tiền tạm ứng án phí 561.500đ Công ty Srisawad đã nộp ngày 20/12/2023 theo biên lai thu số 0009824 được hoàn lại đủ. Anh Phạm Văn T phải nộp án phí số tiền 1.018.000đ. Các đương sự nộp và nhận tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông H về tuân theo pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Công ty TNHH Srisawad Việt Nam khởi kiện yêu cầu chị Tô Diễm Trang giao trả số tiền vay. Chị Trang có địa chỉ cư trú tại ấp Công Điền, xã Long Điền, huyện Đông H, tỉnh B. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông H, tỉnh B.

Đại diện Công ty TNHH Srisawad Việt Nam có đơn đề nghị vắng mặt. Anh Phạm Văn T vắng mặt lần thứ hai. Căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, T hành xét xử vắng mặt đương sự nêu trên.

. Về nội dung:

Xét thấy, do anh Phạm Văn T cố tình vắng mặt, xem như anh tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng. Vì vậy, Công ty Srisawad có quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ và hợp pháp. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, Công ty Srisawad cung cấp: Hợp đồng cầm cố; Phiếu đăng ký cầm cố xe máy; Giấy mượn xe; căn cước công dân; giấy chứng nhận đăng ký xe của anh Phạm Văn T.

Như vậy, căn cứ theo nội dung trong hợp đồng cầm cố xe và các giấy tờ nêu trên có đủ cơ sở để xác định vào ngày 28/12/2022 anh Phạm Văn T có ký hợp đồng cầm cố chiếc xe nhãn hiệu HONDA Airblade 125cc Fi màu bạc xanh đen, biển kiểm soát 94B1- 461.98, số giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy 037808 do công an tỉnh B cấp, cầm cố cho công ty Srisawad với số tiền 15.400.000đ, lãi suất 1,1%/tháng. Đây là tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản được quy định tại Điều 309 Bộ luật dân sự 2015, nên khi phát sinh tranh chấp được Bộ luật này Điều chỉnh. Công ty Srisawad chứng minh được việc anh T có cầm số xe cho công ty với số tiền 15.400.000đ, chưa trả được số tiền nào cho Công ty TNHH Srisawad Việt Nam. Nên số tiền lãi anh T còn nợ lại Công ty Srisawad tính đến ngày 15/8/2023 được tính như sau:

Từ ngày 28/12/2022 đến 15/8/2023:

15.400.000đ x 1.1% = 169.400đ x 07 tháng 17 ngày = 1.281.500đ. Tuy nhiên, Công ty Srisawad chỉ yêu cầu anh T giao trả số tiền lãi 1.186.000đ. Đây là sự tự nguyện của Công ty Srisawad nên được công nhận.

Đồng thời, sau khi thực hiện hợp đồng cầm cố thì anh T đã hợp đồng mượn lại xe của công ty Srisawad, giữa anh T và công ty thỏa thuận phí mượn xe 539.000đ/tháng (3,5%/tháng của số tiền 15.400.000đ). Xét thấy, căn cứ vào Điều 310 Bộ luật dân sự 2015, đây là sự tự nguyện thỏa thuận của anh T và công ty Srisawad, nên cần được công nhận.

Phí mượn xe: 539.000đ x 07 tháng 17 ngày = 4.078.433đ.

Tuy nhiên, do Công ty Srisawad Việt Nam chỉ yêu cầu anh Phạm Văn T giao trả số tiền phí mượn xe là 3.774.000đ nên được chấp nhận.

Tổng số tiền anh Phạm Văn T phải trả cho Công ty Srisawad Việt Nam là:

15.400.000đ + 3.774.000đ + 1.186.000đ = 20.360.000đ.

Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của công ty Srisawad yêu cầu số tiền 2.100.000đ (phí theo dõi tháng).

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty Srisawad không phải nộp án phí. Số tiền tạm ứng án phí 561.500đ Công ty Srisawad đã nộp ngày 20/12/2023 theo biên lai thu số 0009824 được hoàn lại đủ. Anh Phạm Văn T phải nộp án phí số tiền 1.018.000đ. Các đương sự nộp và nhận tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông H.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 309, Điều 310, Điều 311, Điều 316 và 494 Bộ luật dân sự 2015;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Srisawad đối với anh Phạm Văn T.

Buộc anh Phạm Văn T giao trả cho Công ty Srisawad số tiền tổng số tiền 20.360.000đ (tính đến ngày 15/8/2023) và tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng cầm cố đã ký cho đến khi dứt nợ.

Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của Công ty Srisawad, yêu cầu anh Phạm Văn T giao trả số tiền 2.100.000đ.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty Srisawad không phải nộp án phí. Số tiền tạm ứng án phí 561.500đ Công ty Srisawad đã nộp ngày 20/12/2023 theo biên lai thu số 0009824 được hoàn lại đủ. Anh Phạm Văn T phải nộp án phí số tiền 1.018.000đ. Các đương sự nộp và nhận tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông H.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ