vanban.org

Bản án 28/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 28/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Ngọc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1/ Áp dụng Điều 38, khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Trần Thị Ngọc P 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Ngọc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BÀ RỊA
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2023/HS-ST
Ngày: 28-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đình Khoa

2. Bà Nguyễn Thị Thọ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Nữ Lệ Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Như Điểm - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:

TRẦN THỊ NGỌC P - Sinh năm 1987, tại Bà Rịa – Vũng Tàu.

Hộ khẩu thường trú: Tổ 12, ấp Bắc 3, xã Hòa Long, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Chỗ ở: Như trên; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Trần Văn N (đã chết); Mẹ: Hoàng Thị Đ (đã chết); Chồng: Phạm Tuấn L, sinh năm 1989; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Nguyễn Huỳnh Anh T, sinh năm 1980 (có đơn xin vắng mặt).

Trú tại: Tổ 3, ấp Bắc 3, xã Hòa Long, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 15 ngày 09-11-2022, ông Nguyễn Huỳnh Anh T tháo sợi dây chuyền đang đeo trên người ra và để trên bàn trang điểm trong phòng ngủ của vợ chồng tại nhà riêng thuộc Tổ 3, ấp Bắc 3, xã Hòa Long, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để nhờ vợ là bà Lý Minh Kim P lau chùi. Khoảng 6 giờ 45 cùng ngày, Trần Thị Ngọc P đến nhà ông T làm công việc dọn dẹp nhà cửa theo thường lệ. Khi dọn dẹp phòng của vợ chồng ông T, P phát hiện sợi dây chuyền trên bàn trang điểm nên nảy sinh ý định trộm cắp. P đã lén lút lấy trộm sợi dây chuyền bỏ vào túi quần rối tiếp tục làm các công việc khác trong nhà ông T. Đến khoảng 10 giờ 30 sau khi hoàn thành công việc, P ra về và mang theo sợi dây chuyền vừa trộm cắp được. Khoảng 12 giờ cùng ngày, bà Lý Minh Kim P phát hiện sợi dây chuyền bị mất nên trình báo công an.

Khoảng 10 giờ 15 ngày 10/11/2022 Trần Thị Ngọc P đến Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Bà Rịa đầu thú. Tại cơ quan điều tra P khai nhận: Sau khi rời khỏi nhà ông T, P đến trường tiểu học Nguyễn Thanh Đằng rước con về nhà. Sau đó, P đến tiệm vàng Kim Cao tại số 81 Lý Thường Kiệt, khu phố 2, phường Phước Trung, thành phố Bà Rịa do ông Văn Tân Long làm chủ để cầm cố sợi dây chuyền, tại đây P giao dịch với nhân viên Cao Thị Phương Diễm và thỏa thuận cầm với giá 8.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, P tiêu sài hết 5.500.000 đồng, trả cho bà Nguyễn Thị Ánh Ngọc 500.000 đồng, trả cho một người tên Hạ 1.000.000 đồng và nhờ Hạ trả cho một người tên Hiền số tiền 500.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, P quay lại tiệm vàng Kim Cao đề nghị bán sợi dây chuyền đã cầm cố. Ông Long chủ tiệm vàng Kim Cao đồng ý mua với giá 19.720.000 đồng, trừ số tiền cầm cố 8.000.000 đồng và 10.000 tiền lãi, P tiếp tục nhận từ ông Long số tiền 11.710.000 đồng. Sau khi nhận tiền P gặp bà Hoàng Thị Hồng để trả số nợ 6.000.000 đồng. Lúc 15 giờ 37 phút, P đến Ngân hàng Agribank phòng giao dịch Hòa Long chuyển tiền học phí vào tài khoản số 6000201009227 của Trường mầm non Long Xuyên cho con gái Phạm Thị Ngọc Châu số tiền 914.000 đồng; đóng tiền điện vào tài khoản số 6000201004200 của Điện lực thành phố Bà Rịa số tiền 653.737 đồng. Còn lại số tiền 4.500.000 đồng P giao nộp cơ quan công an.

Tại Kết luận định giá tài sản số 183 ngày 24/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS kết luận: 01 sợi dây chuyền vàng 18K, loại khoen lật, mặt dây chuyền hình phật tổng trọng lượng 06 chỉ 03 phân, trị giá 21.126.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Bà Rịa đã trả lại cho người bị hại ông Nguyễn Huỳnh Anh T số tiền: 4.500.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Nguyễn Huỳnh Anh T yêu cầu P tiếp tục bồi thường số tiền 16.626.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSBR ngày 27-02-2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã truy tố Trần Thị Ngọc P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo P đã khai nhận toàn bộ hành vi trái pháp luật của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thị Ngọc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng Điều 38, khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo P từ 12 đến 15 tháng tù; Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho người bị hại số tiền 16.626.000 đồng.

Bị cáo nói lời nói sau cùng nhận thấy hành vi của mình là sai trái, bị cáo hứa sẽ sửa chữa không tái phạm, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ để bị cáo có cơ hội sửa đổi bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bà Rịa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Thị Ngọc P đã khai nhận toàn bộ hành vi trái pháp luật của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 6 giờ 45 ngày 09/11/2022, tại nhà riêng của ông Nguyễn Huỳnh Anh T thuộc Tổ 3, ấp Bắc 3, xã Hòa Long, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Trần Thị Ngọc P đã có hành vi lén lút lấy trộm: 01 sợi dây chuyền vàng 18K, loại khoen lật, mặt dây chuyền hình phật, tổng trọng lượng 06 chỉ 03 phân, trị giá 21.126.000 đồng của ông Tuấn.

Hành vi phạm tội của bị cáo P như nêu trên đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

. Hành vi của bị cáo P là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác; gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đầy đủ sức khỏe để lao động tạo ra thu nhập nhưng do tham lam, lợi dụng sơ hở của người khác để cố ý chiếm đoạt tài sản. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc bằng hình phạt tù có thời hạn đủ để tiếp tục cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm trong xã hội.

. Tuy nhiên, cũng cần xem xét tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo ra đầu thú, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn một mình nuôi 3 con nhỏ, đã thu hồi một phần tài sản trộm cắp trả lại cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Nguyễn Huỳnh Anh T yêu cầu bị cáo P tiếp tục bồi thường số tiền 16.626.000 đồng. Xét yêu cầu của bị hại là chính đáng và phù hợp với các quy định của pháp luật nên cần chấp nhận, buộc bị cáo phải bồi thường cho ông T số tiền 16.626.000 đồng.

. Về án phí: Bị cáo P phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Ngọc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1/ Áp dụng Điều 38, khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Trần Thị Ngọc P 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

2/ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự, Điều 584, 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Trần Thị Ngọc P bồi thường cho ông Nguyễn Huỳnh Anh Tuấn số tiền là 16.626.000 đồng (Mười sáu triệu, sáu trăm hai mươi sáu ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm lãi suất của số tiền chưa thi hành theo lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành.

3/ Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thị Ngọc P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 831.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28-3-2023), bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Người bị hại vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ