- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Chí Kim trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lưu Chí K phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2023/HSST Ngày: 21 - 02 - 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn
2. Bà Nguyễn Thị Lý
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ lê Quỳnh Thư
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2023 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 05/2023/HSST ngày 06 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Lưu Chí K; giới tính: Nam, sinh năm 1975 tại Tp. H; Hộ khẩu thường trú : 163/37 B, Phường Y, quận G, Tp. H; nơi cư trú: 25/22/6 B, Phường Y, quận G, Tp. H; Nghề nghiệp: Bán vé số; Trình độ văn hóa: 02/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Con ông Lưu Tiên C (sinh năm 1934 – đã chết) và bà Nguyễn N (sinh năm 1945); Hoàn cảnh gia đình có vợ tên Nguyễn Thị V, sinh năm 1976 – đã ly hôn; có 03 con , con lớn nhất sinh năm 1994; con nhỏ nhất sinh năm 2001 ; Tiền án: 02 ; Ngày 22/9/2008, bị Tòa án nhân dân quận G xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 285/2008/HSST, chấp hành án tại Trại giam Cây Cầy). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/4/2009. Chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm; Ngày 25/8/2020, bị Tòa án nhân dân quận G xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 129/2020/HSST, chấp hành án tại Trại giam Xuân Lộc). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/8/2022, đến ngày bị bắt chưa được xóa án tích; Tiền sự : không. Bị cáo bị bắt và tạm giam ngày 24/10/2022 (Có mặt).
Bị hại :
- Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1985; Trú tại: 37/3 Đường X, Phường Y, quận G, Tp. H (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 24/10/2022, Lưu Chí K, sinh năm 1975; hộ khẩu thường trú: số 163/37 B, phường Y, quận G, TP.H; nơi ở hiện nay: số 25/22/6 B, phường Y, quận G, TP.H, một mình đi bộ bán vé số ngang qua địa chỉ nhà: số 331/70/126 P, phường Y, quận G, TP.H, thì phát hiện nhà trên không khóa cửa cổng. Lúc này, K lẻn vào trong nhà trên nhìn thấy xe máy 02 bánh hiệu Yamaha Jupiter biển số: 51V1 – 1129, thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1985; hộ khẩu thường trú: số 37/3 đường X, phường Y, quận G, TP.H; nơi nở hiện nay: số 331/70/126 P, phường Y, quận G, TP.H, đang dựng tại vị trí gần bụi cây trước sân nhà thì K lén dắt trộm xe máy 02 bánh hiệu Yamaha Jupiter biển số: 51V1 – 1129 ra khỏi cổng nhà trên. Khi K vừa dắt xe máy trên ra khỏi cổng nhà, di chuyển được khoảng 04 mét thì bị hại là anh Lê Quang T, sinh năm 1977; hộ khẩu thường trú: số 331/70/126 P, phường Y, quận G, TP.H (chồng chị L) và anh Hoàng Ngọc B, sinh năm 1973; hộ khẩu thường trú: số 37/18 đường X, phường Y, quận G, TP.H, đang ngồi ăn uống ở nhà kế bên, phát hiện nên trực tiếp bắt giữ K, giao K cùng vật chứng cho Công an phường Y, quận G, TP.H lập biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL: 27,28).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lưu Chí K đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng đã thu giữ:
01 (một) xe máy hiệu Yamaha Jupiter biển số: 51V1 – 1129, màu xám, số khung VT13YA-016515, số máy VT1-16515. Tại bản kết luận định giá tài sản số 245/KL-HĐĐGTS, ngày 2/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận G thì xe này có trị giá là 5.933.333 đồng. Qua xác minh xe này do chị Nguyễn Thị L đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thị L.
Tại bản cáo trạng số 11/Ctr-VKS, ngày 30/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận G đã truy tố bị cáo Lưu Chí K về tội “ Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lưu Chí K đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận G sau khi phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khỏan 2 Điều 173, điểm s khỏan 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Lưu Chí K mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
Qua ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát bị cáo nhất trí và không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận G, Viện kiểm sát nhân dân quận G, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với Biên bản phạm quả tang, lời khai người bị hại, lời khai của người làm chứng, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận G và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị 5.933.333 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Lưu Chí K đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung như Viện kiểm sát nhân dân quận G đã truy tố.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người bị hại, bị cáo cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại, điều đó cho thấy bị cáo rất xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng tác động xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo chỉ vì muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính nên đã thực hiện hành vi phạm tội.
Bị cáo đã từng 02 lần bị xử phạt về hành vi “ trộm cắp tài sản”. Tuy chưa xóa án tích nhưng bị cáo lại tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên cần thiết phải xử lý nghiêm, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo đồng thời cũng nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai báo, thành khẩn nhận tội nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự : Tại phiên tòa, bị hại chị Nguyễn Thị L vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện chị L đã nhận được tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) xe máy hiệu Yamaha Jupiter biển số: 51V1 – 1129, màu xám, số khung VT13YA-016515, số máy VT1-16515. Qua xác minh xe này do chị Nguyễn Thị L đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thị L. Xét, việc trả lại tài sản trên là hợp lệ nên không đưa ra xem xét giải quyết lại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lưu Chí K phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”;
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lưu Chí K 02 (hai) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 24/10/2022
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25/11/2015 của Quốc Hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng. Nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TPHCM; - Chi cục thi hành án quận G; - Công an quận G; - Viện kiểm sát quận G; - Người tham gia tố tụng; - Bị cáo; - PC27 công an TPHCM; - THA hình sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hƣơng |