vanban.org

Bản án 28/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 08/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

I. Hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Trọng T 16 (Mƣời sáu) tháng tù, thời hạn tù được Th từ ngày 19/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng T gây rối - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2023/HS-ST
Ngày 08-3-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Châm

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thúy Hảo

Ông Hà Văn Trường

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Trọng T, sinh năm 1999 tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Nơi thường trú: số.... đường L, Phường 1, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi ở trước khi bị bắt: số.... đường N, Phường Nguyễn An Ninh, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới Th: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Không rõ; Mẹ: Nguyễn Thị Thu T; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án; Tiền sự: Không

Bị bắt ngày 19/10/2022. Có mặt.

Người làm chứng:

1. Trần Minh S, sinh năm 2001; Địa chỉ: số.... đường Đ, phường Thắng Nhất, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Vắng mặt.

2. Trần Công M, sinh năm 2002; Hộ khẩu thường trú: Xã Đ, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do Nguyễn Tuấn Huy vay tiền của Ngô Anh Kiệt nhưng đến thời điểm tháng 10/2021 vẫn chưa trả, mặc dù Kiệt đã nhiều lần đòi tiền. Vì vậy, cả hai đã xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, Kiệt đã nhiều lần gọi điện thoại đòi tiền và thách thức đánh nhau với Huy.

Khoảng 21 giờ ngày 07/10/2021, Huy và Kiệt đã hẹn đánh nhau để giải quyết mâu thuẫn. Huy đã rủ Trần Công M; Trần Vĩnh Thương; Phạm Tấn Lộc cùng đi với Huy. Đồng thời các đối tượng này đã rủ thêm những người khác chuẩn bị hung khí mang theo nhằm mục đích đánh nhau, cụ thể: Minh rủ Trần Minh S và Nguyễn Trọng T; Lộc rủ thêm Lê Văn Hải; Thương rủ thêm Nguyễn Quốc Anh; Nguyễn Quốc Cường; Trần Tiến Huân; Nguyễn Đoàn Anh Khoa; Ngô Toàn Dinh; Nguyễn Thanh Hoàng.

Khoảng 22 giờ cùng ngày, các đối tượng tập trung tại trước nhà Huy trên đường Ngư Phủ, phường Thắng Nhì, thành phố Vũng Tàu. Tổng cộng 13 người đi trên 6 xe máy. Trong đó, Quốc Anh, Hải, Huy, mỗi người đã tự chuẩn bị và cầm theo 01 cây dao tự chế; Thương, Quốc Cường, Hoàng đã nhặt đá xung quanh cầm theo. Khi tập trung, Huy nói cho mọi người biết về việc mâu thuẫn giữa Huy với Kiệt và việc Kiệt hẹn đánh nhau, do sợ nhóm của Kiệt đi đông người nên Huy nhờ mọi người cùng đi giúp Huy tìm đánh nhóm của Kiệt. Nghe Huy nhờ như vậy, cả nhóm tự hiểu là đi đánh nhau nên đồng ý tham gia. Khi mọi người đã tập trung đông đủ, cả nhóm bắt đầu di chuyển tìm đánh nhóm của Kiệt. Sách điều khiển xe mô tô chở Minh và T; lúc này Minh cầm theo hung khí là một cây dao tự chế; Lộc điều khiển xe chở Hải cầm 01 cây dao tự chế; Dinh điều khiển xe chở Quốc Cường cầm 02 cục đá; Khoa điều khiển xe chở Hoàng cầm 02 cục đá. Cả nhóm điều khiển xe đi theo đường Nguyễn An Ninh đến khu vực Bùng binh dầu khí, phường Nguyễn An Ninh. Tại đây, một số người trong nhóm đã dừng lại đổ xăng; số khác tiếp tục nhặt thêm đá ở khu vực xung quanh cây xăng cầm theo để sử dụng. Sau đó cả nhóm tiếp tục đi theo đường 2/9 đến Bùng binh Nguyễn Hữu Cảnh, phường Thắng Nhất rồi rẽ vào đường Nguyễn Hữu Cảnh đi ra đường 3/2 tới khu vực Bãi biển Long Cung. Tại đây, cả nhóm dừng đợi nhóm của Kiệt. Lúc này, Huy đã điện thoại khiêu khích Kiệt nhưng Kiệt không tới. Do đợi lâu nên cả nhóm đã bỏ về (BL: 62-89).

Căn cứ biên bản của Uỷ ban nhân dân các phường Thắng Nhì, Thắng Nhất, Nguyễn An Ninh, Phường 7, Phường 9 cùng các ban ngành đoàn thể tại địa phương đều thống nhất kết luận đây là sự việc nghiêm trọng gây mất an ninh trật tự nơi công cộng, làm ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của nhân dân quanh khu vực trên (BL: 55-61).

Quá trình điều tra Nguyễn Trọng T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Các đối tượng tham gia trong vụ gây rối ngày 07/10/2021, thuộc nhóm của Nguyễn Trọng T bao gồm: Trần Minh S, Trần Công M, Nguyễn Tuấn Huy, Phạm Tấn Lộc, Lê Văn Hải, Ngô Toàn Dinh, Nguyễn Quốc Cường, Nguyễn Đoàn Anh Khoa, Nguyễn Thanh Hoàng, Trần Tiến Huân, Trần Vĩnh Thương, Nguyễn Quốc Anh đã bị xét xử theo Bản án số 228/2022/HSST ngày 26/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

Cáo trạng số 346/CT - VKSTPVT ngày 10 tháng 01 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Trọng T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Trọng T về tội “Gây rối trật tự công cộng”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T từ 2 năm đến 2 năm 6 tháng tù.

- Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh. Bị cáo thừa nhận trong quá trình bị cáo cùng các đồng phạm chạy xe trên các tuyến đường đã nẹt pô xe, cầm hung khí hú hét gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự của địa phương, bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người làm chứng là Trần Minh S, Trần Công M vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Về tội danh:

Căn cứ lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, lời khai của người làm chứng và chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 07/10/2021, Nguyễn Trọng T cùng đồng phạm (khoảng 12 người) điều khiển nhiều xe máy, cầm theo hung khí gồm dao tự chế, gạch đá… di chuyển lạng lách, đánh võng, giàn hàng, la hét trên nhiều tuyến đường của thành phố Vũng Tàu để tìm đánh nhau với nhóm của Ngô Anh Kiệt. Khi đến khu vực bãi tắm Long Cung, Phường 10, thành phố Vũng Tàu, nhóm của T chờ khoảng 20 phút nhưng không thấy nhóm của Kiệt đến nên đã đi về.

Khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ 2 năm đến 7 năm:…. b) dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách”.

Bị cáo T tuy không mang theo hung khí nhưng tham gia cùng nhóm các đồng phạm có sử dụng các hung khí nguy hiểm như dao tự chế, gạch, đá... khi thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã tiếp nhận ý chí đối với các đồng phạm trong việc sử dụng hung khí nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu truy tố bị cáo hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Các đối tượng tham gia trong vụ gây rối ngày 07/10/2021, thuộc nhóm của Nguyễn Trọng T bao gồm: Trần Minh S, Trần Công M, Nguyễn Tuấn Huy, Phạm Tấn Lộc, Lê Văn Hải, Ngô Toàn Dinh, Nguyễn Quốc Cường, Nguyễn Đoàn Anh Khoa, Nguyễn Thanh Hoàng, Trần Tiến Huân, Trần Vĩnh Thương, Nguyễn Quốc Anh đã bị xét xử theo Bản án số 228/2022/HSST ngày 26/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

. Về vai trò, Th chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo:

Bị cáo cùng đồng phạm mặc dù có sự thống nhất về việc thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa có sự cấu kết chặt chẽ nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Hành vi của bị cáo cùng các đồng phạm là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống nhưng với sự bốc đồng, hiếu thắng, a dua không phân biệt được đúng sai bị cáo và đồng phạm đã tụ tập thành nhiều nhóm và thực hiện hành vi gây rối ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trật tự địa phương; bị cáo là người có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhưng chỉ với vai trò giúp sức nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử quyết định xử phạt bị cáo mức án tương ứng với hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo tuổi còn trẻ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, là đồng phạm có vai trò không tích cực nên được xét là phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo như hướng dẫn tại mục 4 phần I Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07 tháng 4 năm 2017 của Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để lượng hình với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Không

. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trọng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội các bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

I. Hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt:

Nguyễn Trọng T 16 (Mƣời sáu) tháng tù, thời hạn tù được Th từ ngày 19/10/2022.

II. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Trọng T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

III. Quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày Th từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ