- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Trường N-Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Trƣờng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2023/HS-ST Ngày 7-3-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T - TỈNH QUẢNG NAM
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Long
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Kim Thanh
2. Bà Nguyễn Thị Ánh Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Quảng Nam tiến hành mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 17/2023/TLHS-ST ngày 21 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Huỳnh Trƣờng N, sinh ngày 12/8/1988; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khối phố 5, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 6/12; con ông Huỳnh H và bà Trương Thị C; bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: không;
- Tiền án:
Ngày 05/6/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản;
Ngày 27/8/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;
Ngày 10/12/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ xử phạt 05 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 26/12/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt của hai bản án buộc bị cáo phải chấp hành là 08 năm tù, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/9/2020, chấp hành xong số tiền truy thu, án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm. Đối với nghĩa vụ bồi thường bị hại không có đơn yêu cầu thi hành án dân sự.
Nhân thân:
Ngày 02/4/2005, bị Công an thị xã Tam Kỳ áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi Trộm cắp tài sản;
Ngày 15/01/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;
Ngày 04/10/2021, bị UBND phường A, thành phố T áp dụng biện pháp đưa ra giáo dục tại xã, phường thời hạn 03 tháng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giam kể từ ngày 04/12/2022. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Bà Phạm Thị Th, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn K, xã X1, huyện N, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.
2. Ông Phạm Văn Q, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn A, xã B, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Khối phố 5, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.
2. Bà Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1987. Địa chỉ: xã T, huyện B, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.
3. Bà Phạm Thị Thu H, sinh ngày 06/6/2004. Địa chỉ: Thôn A, xã B, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; có mặt.
4. Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1986. Địa chỉ: Khối phố C, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.
5. Bà Trương Thị C, sinh năm 1960. Địa chỉ: Khối phố 5, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 06 giờ 00 phút ngày 04/12/2022, Công an thành phố Tam Kỳ tiến hành kiểm tra tạm trú tại nhà bà Lê Thị Tường V, địa chỉ: Kiệt 114 TD, Khối phố 2, phường A, thành phố T do Nguyễn Minh T và Nguyễn Thị Ph đang ở. Qua kiểm tra, Công an thành phố Tam Kỳ phát hiện tại phòng của T có 02 (hai) chiếc xe mô tô gồm: xe mô tô Sirius màu xanh bạc, BKS: 92B1-264.** và xe mô tô Future màu đen đỏ, BKS: 92B1-413.** không có giấy đăng ký xe. Qua làm việc, T trình bày hai chiếc xe mô tô nêu trên của Huỳnh Trường N là bạn bè quen biết ngoài xã hội đem đến gửi nhờ.
Quá trình điều tra xác định, hai chiếc xe Sirius màu bạc, BKS: 92B1-264.** và xe Future đen đỏ, BKS: 92B1-413.** là do Huỳnh Trường N trộm cắp tại thành phố T. Cụ thể:
Vụ thứ nhất: khoảng 14 giờ 00 phút ngày 03/12/2022, Huỳnh Trường N đón xe ôm đến Công ty Phước Kỳ N, phường H, thành phố T để chờ em đi làm về. Trong lúc chờ, N thấy có nhiều xe mô tô dựng gần cổng Công ty Phước Kỳ N. N nhặt được một chiếc chìa khoá cũ gần cổng Công ty Phước Kỳ N, N thấy chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu xanh, BKS: 92B1-264.** của chị Phạm Thị Th dựng gần cổng Công ty Phước Kỳ N không có người trông giữ, N nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này. N đến gần chiếc xe dùng chìa khoá cũ tra vào ổ khoá xe vặn thử nhiều lần thì mở được ổ khoá xe. Sau đó, N đề máy nổ xe và điều khiển xe chạy đến gửi tại nhà của Nguyễn Minh T (có lai lịch nêu trên) để tìm người tiêu thụ.
Vụ thứ hai: khoảng 00 giờ 00 phút ngày 04/12/2022, tại tiệm game bắn cá phía sau chợ Vườn Lài, phường S, thành phố T, N rủ Nguyễn Thanh H1 đi ăn khuya. Sau khi ăn xong, N và H1 đi xe mô tô Attila màu đỏ, BKS: 92B1-001.** (xe mượn của mẹ N) xuống xã B để gặp bạn mượn tiền. H1 chở N đi theo đường nhựa rẽ xuống xã B một đoạn thì đường ngập nước nên H1 và N đi ngược về đường Quốc lộ 1A theo hướng Tam Kỳ - Đà Nẵng rồi rẽ vào đường nhựa xuống khu Công nghiệp Tam Thăng, đến ngã tư rẽ trái đi theo đường nhựa (về hướng biển) khoảng 01 km. Khi đi ngang qua lò bánh mỳ M (thôn A, xã B, thành phố T) ở bên phải theo hướng đi, N quan sát thấy trong hiên nhà có dựng chiếc xe mô tô hiệu Future màu đỏ đen, BKS: 92B1-413.** của ông Phạm Văn Q, H1 chở N đến trước một đoạn thì N nói H1 “dừng lại để tau vào nhà bạn, mi về trước đi khi nào về tau điện”; H1 dừng xe lại để N xuống xe rồi H1 điều khiển xe đi về. N đi bộ ngược lại vị trí dựng chiếc xe, thấy lò bánh mỳ khép hờ cửa, không có người trông coi. N lén lút đi lại vị trí chiếc xe BKS: 92B1-413.** thấy chìa khoá vẫn cắm trên ổ khoá xe, N dắt xe lùi lại quay ra đường nhựa, bật chìa khoá đề nổ máy rồi điều khiển chiếc xe mô tô Future màu đỏ đen, BKS: 92B1-413.** chạy về hướng trung tâm thành phố T. Sau đó, N điều khiển chiếc xe mô tô Future vừa trộm cắp được đến nhà Nguyễn Minh T (có lai lịch nêu trên) gửi chiếc xe này tại nhà của T để tìm người tiêu thụ rồi N quay lại tiệm bắn cá tại khu vực chợ Vườn Lài, thành phố T chơi game bắn cá.
* Tang vật tạm giữ:
- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu xanh bạc, BKS: 92B1- 264.**, số khung RLCS5C6J0GY206607, số máy 5C6J206608;
- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Future màu đen đỏ, BKS: 92B1- 413.**, số khung RLHJC7623JZ042236, số máy JC76E0438876; trên xe có gắn 01 (một) bộ định vị hiệu VNET GPS Tracker: TG 102G.
- 01 chìa khoá xe mô tô Honda Future màu đen đỏ, BKS: 92B1- 413.**. (Bút lục: 24).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 93/KL-HĐĐGTS ngày 13/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Tam Kỳ xác định:
+ 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu xanh bạc, biển kiểm soát: 92B1-264.**, số khung RLCS5C6J0GY206607, số máy 5C6J206608 tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng);
+ 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Future màu đen đỏ, BKS: 92B1-413.**, số khung RLHJC7623JZ042236, số máy JC76E0438876, kèm theo 01 (một) bộ định vị hiệu VNET GPS Tracker: TG 102G tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 13.000.000đ (mười ba triệu đồng).
Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 20.500.000đ (hai mươi triệu năm trăm nghìn đồng).
Cáo trạng số 22/CT-VKSTK-HS ngày 20/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố bị cáo Huỳnh Trường N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Trường N phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng điểm b, g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 04 năm đến 04 năm 6 tháng tù.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Kỳ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về nội dung:
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định được: Bị cáo Huỳnh Trường N đang có 04 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, đã được xác định tái phạm, chưa được xóa án tích, nhưng trong các ngày 03/12/2022 và 04/12/2022, tại phường H và phường S, thành phố T, bị cáo nhiều lần lén lút trộm cắp của chị Phạm Thị Th 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sisius màu xanh bạc BKS 92B1-264.** trị giá 7.500.000 đồng và của ông Phạm Văn Q 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu đen đỏ BKS 92B1-413.** trên xe có gắn 01 bộ định vị hiệu VNET GPS: TG 102G trị giá 13.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 20.500.000 đồng. Hành vi trên của bị cáo Huỳnh Trường N đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) theo tình tiết định khung hình phạt“Tái phạm nguy hiểm”.
Xét thấy, trước khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trong vụ án này bị cáo đã bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản’’ (bị cáo thực hiện trên 05 lần trộm cắp tài sản) chưa được xóa án tích. Tuy nhiên, sau khi chấp hành xong hình phạt tù của bản án trước từ ngày 04/9/2020 đến trước khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trong vụ án này bị cáo không thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu lần nào khác. Sau khi chấp hành án, bị cáo đi làm công nhân tại tỉnh Bình Dương, sau đó về lại thành phố T sống và phụ giúp cùng với gia đình để kiếm sống. Tại phiên tòa, bị cáo và mẹ bị cáo là bà Trương Thị C đều khai hàng ngày mẹ bị cáo nuôi cơm bị cáo, mặc khác trong vụ án này bị cáo chưa bán được tài sản trộm cắp được. Do vậy, không có căn cứ để quy kết bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản lần này để làm nguồn thu nhập chính nuôi sống bản thân nên không cấu thành tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp’’.
Hành vi của bị cáo Huỳnh Trường N là cố ý, nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, bị cáo đã bị xử phạt tù nhiều lần về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không ăn năn hối cải, vì vậy cần áp dụng loại hình phạt tù với mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi đã thực hiện để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nghiệm hình sự của bị cáo:
Trong vụ án, bị cáo 02 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của 02 bị hại, giá trị tài sản mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử phạt tù và xử lý hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản và Sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình tố tụng, bị cáo thành khẩn khai báo, do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về dân sự, vật chứng và vấn đề liên quan trong vụ án:
- Về dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì thêm nên không giải quyết.
- Vật chứng và vấn đề liên quan khác:
Đối với 01 chiếc xe mô tô hiệu Attila màu đỏ BKS 92B1-001.** mà bị cáo sử dụng đi trộm cắp tài sản thuộc sở hữu của bà Trương Thị C (mẹ ruột bị cáo), bà C không biết bị cáo sử dụng xe làm phương tiện phạm tội nên không xử lý bà C cũng như không thu giữ chiếc xe trên là phù hợp.
Không có căn cứ xác định Nguyễn Minh T biết được hành vi trộm cắp 02 chiếc xe máy của bị cáo N nên việc cho N gửi xe tại nhà của T không cấu thành tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Đối với Nguyễn Thanh H1 là người điều khiển xe Attila màu đỏ BKS 92B1-001.** chở bị cáo N đi từ phường S đến xã B để gặp bạn mượn tiền. Tuy nhiên trước khi N thực hiện hành vi thì H1 đã điều khiển xe về lại phường S. N khai không bàn bạc rủ rê H1 trộm vắp tài sản với bị cáo và H1 không biết hành vi trộm cắp tài sản của N. Do hiện H1 đã bỏ đi khỏi địa phương nên không có căn cứ xác định H1 đồng phạm với bị cáo N trong việc trộm cắp 02 chiếc xe trên.
Về án phí: Bị cáo Huỳnh Trường N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Trƣờng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Trường N 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 04/12/2022).
2. Buộc bị cáo Huỳnh Trường N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời gian 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các cơ quan tiến hành tố tụng; - Những người tham gia tố tụng; - Cơ quan thi hành án dân sự; - Sở Tư pháp Quảng Nam; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (đã ký) Đinh Tấn Long |