- Tranh chấp gì? án hình sự — "vu cong k giet nguoi - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Công K phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2023/HS-ST Ngày 28/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Minh, bà Hoàng Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Nguyệt - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trình - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 4 năm 2023 đối với:
1. Bị cáo: Vũ Công K, sinh năm 1975;
Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã Q, huyện Q1, tỉnh Thái Bình.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 12/12; Con ông Vũ Công Liên và bà Vũ Thị Thái; Vợ là chị Hồ Thị Kim L, có 02 con sinh năm 1995 và 1998; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 08/11/2006 và ngày 07/12/2006 bị Công an huyện Q1 xử phạt vi phạm hành chính đều về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức xử phạt cảnh cáo.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/6/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình, trích xuất có mặt tại phiên tòa.
2. Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Xuân Trường – Văn phòng luật sư Phạm Hữu Lâm và cộng sự, Đoàn luật sư tỉnh Thái Bình. (có mặt)
3. Bị hại: Anh Vũ Thanh H, sinh năm 1979;( có mặt)
ĐKHKTT: Tổ dân phố số 02, thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
Tạm trú: Thôn B, xã Q, huyện Q1, tỉnh Thái Bình.
4. Người làm chứng:
- Ông Đỗ Quang Thường, sinh năm 1965; ( vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện Q1, tỉnh Thái Bình.
- Anh Vũ Bảo Việt, sinh năm 1998; ( vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện Q1, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Công K là em họ anh Vũ Thanh H là bị hại trong vụ án. Do được chú họ là ông Đỗ Quang Thường mời ăn giỗ nên khoảng 11 giờ, ngày 24/4/2022 anh H, K và chị Hồ Thị Kim Lai là vợ của K đến nhà ông Thường ăn cơm, uống rượu. Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi ăn cơm, uống rượu xong, K nói với anh H: “Trước đây em đến Gia Lai chơi nhà anh Hùng nhưng không thấy anh đâu” (anh Hùng là anh trai anh H). Anh H không tin lấy điện thoại gọi cho anh Hùng và nói với K: “Đ.mẹ, mày nói phét, mày có đến nhà anh Hùng đâu. Nếu lần sau mày lên Kbang, Gia Lai thì cứ hỏi H sút ở đó ai cũng biết”. K nói với anh H: “Mày ở đây còn chưa có tên tuổi gì, mày là cái đéo gì mà trong Gia Lai nói H sút ai cũng biết”. Ông Thường nghe thấy vậy thì can ngăn và bảo anh H và K đi về. K và chị Lai đứng dậy đi về trước, khi đi ra đến cổng nhà ông Thường thì anh H đuổi theo dùng tay đấm hai phát trúng đầu K. Ông Thường chạy ra can ngặn bảo anh H, chị Lai và K đi về. K bực tức nói với anh H: “Từ giờ đến tối cho mày biết, tao sang san bằng nhà mày” rồi cùng chị Lai đi về nhà. Anh H không nói gì và đi về nhà mình, khoảng 05 phút sau, anh H điều khiển xe máy sang nhà K để chửi, đánh nhau với K. Ông Thường thấy anh H đi qua nhà nên đi xe máy đuổi theo phía sau mục đích nếu đánh nhau thì can ngăn (nhà ông Thường ở khoảng giữa nhà anh H và nhà K, cách nhà anh H khoảng 50 mét, cách nhà K khoảng 200 mét). Khoảng 13 giờ 30 phút, anh H đi đến cổng nhà K, vứt xe máy để ngoài cổng (xe vẫn nổ máy), đi vào trong sân nhà K vừa đi vừa chửi: “Đ mẹ thằng K Liên mày đâu rồi đi ra đây” (ông Liên là bố đẻ của K) rồi đứng ở sân tiếp tục chửi K. Ông Thường đi xe máy đến thấy anh H đang đứng ở sân nhà K, cùng lúc này tại cổng nhà K có anh Vũ Bảo Việt là em họ của K đang đảo vữa xây tường rào cho nhà K. Lúc này K đang ở trong nhà, do bực tức vì bị anh H đánh trước đó tại nhà ông Thường, sau đó lại đến nhà chửi, gọi cả tên bố đẻ (đã mất) ra chửi nên K vào trong bếp lấy 02 con dao của gia đình, loại dao phay bằng kim loại màu đen, đầu dao vuông, trong đó tay phải cầm 01 con dao dài 38cm, bản rộng nhất 06cm, tay trái cầm 01 con dao dài 30cm, bản rộng nhất 05cm chạy ra sân về phía anh H và chửi “Đ.mẹ thằng này”. K đứng đối diện cách anh H khoảng 01m, chém liên tiếp nhiều nhát về phía anh H, tay phải cầm dao chém theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái; tay trái cầm dao chém theo hướng từ trên xuống dưới từ trái sang phải thì 01 nhát trúng vùng cổ bên trái của anh H, 01 nhát vào môi trên của anh H. Anh H dùng tay đấm lại vào vùng ngực và tay K. Ông Thường hô “Thằng kia không được làm thế” rồi cùng anh Việt vào can ngăn, ôm đẩy K ra. K vẫn giơ dao chém với 2-3 nhát về phía anh H làm sút da vùng cẳng tay trái và vùng lưng anh H. Anh Việt đẩy K vào trong nhà, K vứt 02 con dao ở sân rồi đi vào trong nhà và bảo chị Lai đi theo xem anh H thế nào. Cháu Lồi Thị Thu Hương (con nuôi của K và chị Lai) ra sân nhìn thấy 02 con dao cầm mang vào trong bếp rửa sạch để trên mặt bàn bếp. Ông Thường thấy anh H bị thương chảy máu nên xé áo anh H đang mặc trên người, bịt vào vết thương trên cổ và dùng xe máy chở anh H đi Bệnh viện Đa khoa huyện Q1. Do vết thương ở cổ nặng, nguy hiểm nên Bệnh viện Đa khoa huyện Q1 đã sơ cứu ban đầu và chuyển anh H đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình để cấp cứu, điều trị từ ngày 24/4/2022 đến 04/5/2022 được xuất viện. Sau khi gây thương tích cho anh H, K đã lấy xe máy của gia đình đi lòng vòng ngoài đường. Khoảng 20 giờ cùng ngày, K đến Công an huyện Q1 đầu thú.
Tại Bản K luận giám định pháp y về thương tích số 147/22/TgT ngày 09/5/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Thái Bình đối với anh Vũ Thanh H, kết luận: “tổn thương do vật sắc tác động làm rách da, tổ chức dưới da vùng cổ trái, vùng môi bên phải, rách tuyến nước bọt mang tai bên trái, mẻ xương góc hàm dưới bên trái. Đã được xử trí: Khâu vết thương, kháng sinh, giảm đau. Hiện tại đau các vết thương, mệt, đau đầu; Bệnh nhân hiện đang nằm điều trị nên chưa đánh giá được việc tổn thương tuyến nước bọt có ảnh hưởng tới chức năng khô miệng hay không. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gẫy nên tại thời điểm giám định là: 11% (Mười một phần trăm).” (Bút lục số 142-143).
Tại Bản Kết luận giám định bổ sung pháp y về thương tích số 195/22/Tgt ngày 30/5/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Thái Bình đối với anh Vũ Thanh H, kết luận: “Tổn thương do vật sắc tác động làm rách da, tổ chức dưới da vùng cổ trái, vùng môi bên phải, rách tuyến nước bọt mang tai bên trái, mẻ xương góc hàm dưới bên trái. Đã được xử trí: khâu vết thương, kháng sinh, giảm đau. Hiện tại đau các vùng tổn thương. Có khô tuyến nước bọt. Kết luận khám chuyên khoa răng hàm mặt: Vết thương vùng mang tai không ảnh hưởng đến tuyến nước bọt. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định bổ sung là: 11% (Mười một phần trăm)” (Bút lục số 162-163).
Bản cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 15/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Vũ Công K về tội “Giết người” quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trong bản Cáo trạng.
Bị hại là anh Vũ Thanh H thừa nhận có phần lỗi trong cách cư xử với bị cáo và giữ nguyên mức yêu cầu về trách nhiệm dân sự buộc bị cáo bồi thường số tiền 176.200.000đồng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
+ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Công K phạm tội “Giết người”.
+ Về hình phạt: Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Vũ Công K từ 07 năm tù đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/6/2022.
+ Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường các khoản chi phí cấp cứu chữa trị là 12.200.000đồng, tiền mất thu nhập do không lao động được trong 45 ngày là 45.000.000đồng, tiền tổn thất tinh thần từ 15.000.000đồng đến 20.000.000đồng. Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại từ khoảng 70.000.000đồng đến 80.000.000đồng. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường 22.000.000 đồng cho bị hại. Bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại số tiền từ 52.000.000đồng đến 55.000.000 đồng.
+ Về vật chứng, tài sản quản lý: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 con dao bằng kim loại màu đen, loại dao phay liền cán và lưỡi: 01 con có chiều dài 38cm, đầu dao bằng, có một lưỡi sắc, cán dao dài 13cm, lưỡi dao dài 25 cm; 01 con dao có chiều dài 30cm, đầu dao bằng, có một lưỡi sắc, cán dao dài 10cm, lưỡi dao dài 20cm; mẫu vết máu thu tại hiện trường (được niêm phong trong túi dán kín).
+ Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Luật sư Phạm Văn Trường: Nhất trí với Viện kiểm sát về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử xác định do bị hại có lỗi, nên về mức bồi thường tổng chi phí là 49.750.000 đồng, cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 và xử bị cáo dưới mức hình phạt của khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Bị cáo nhất trí với quan điểm của người bào chữa nhất trí với luận tội với Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy việc làm của mình là sai, bị cáo rất ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử mức hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo, về trách nhiệm dân sự đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái Bình, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, những người làm chứng đã được tống đạt Giấy triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, quá trình điều tra đã thu thập đầy đủ lời khai của họ. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng.
Về căn cứ buộc tội bị cáo: Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp và thống nhất với lời khai của bị hại là anh Vũ Thanh H, người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú; Báo cáo vụ việc và Biên bản vụ việc; kết quả khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng; Báo cáo vụ việc và Biên bản vụ việc do Công an xã Q lập; Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q1 lập; Biên bản quản lý vật chứng và bản ảnh vật chứng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q1 lập; Các biên bản xác minh, kết luận giám định về thương tích và dấu vết máu; Biên bản xác minh của Công an xã Q tại Bệnh viện Đa khoa huyện Q1; Giấy chứng nhận thương tích ban đầu của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình lập và Bệnh án điều trị của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình… Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trưa ngày 24/4/2022, do mâu thuẫn về lời nói trong lúc uống rượu tại nhà ông Đỗ Quang Thường, anh Vũ Thanh H đã dùng tay đấm 02 cái vào đầu Vũ Công K. Được mọi người can ngăn nên hai bên đi về nhà. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, anh H tiếp tục đi đến nhà K, chửi K. Do bực tức, K đã lấy 02 con dao của gia đình (loại dao phay bằng kim loại màu đen), cầm trên hai tay, đứng đối diện và chém liên tiếp nhiều nhát về phía người, cổ anh H. Được mọi người can ngăn nên K dừng lại, không chém nữa. Anh H được chuyển đến Bệnh viện Đa khoa huyện Q1, sau đó chuyển lên Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình cấp cứu, điều trị kịp thời nên không nguy hiểm đến tính mạng. Hậu quả: anh H bị 01 vết thương ngang, bờ sắc gọn dài 10 cm ở cổ bên trái ngay dưới góc hàm trái, vết thương đứt qua cân cơ tổ chức dưới da vùng tương ứng, đứt cơ ức đòn chũm, rách tuyến nước bọt mang tai trái, đứt cơ cắn bên trái, mẻ góc hàm bên trái xương hàm dưới; 01 vết thương sắc gọn dài 1,5cm ở vùng môi trên bên phải; 01 vét sứt da nông ở 1/3 dưới ngang căng tay dài 8cm; 01 vết sứt da nông ở lưng trái dài 9,5cm; tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11%. Hành vi nêu trên của bị cáo K đã phạm vào tội “Giết người” quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã truy tố là có căn cứ, đúng người và đúng pháp luật. Điều luật quy định như sau:
Điều 123. Tội giết người
1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình
a) Giết 02 người trở lên;
b) Giết người dưới 16 tuổi;
c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;
n) Có tính chất côn đồ;
o) Có tổ chức;
p) Tái phạm nguy hiểm;
q) Vì động cơ đê hèn.
2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm…
Xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và xâm hại trực tiếp đến tính mạng con người được pháp luật bảo vệ, hậu quả bị hại phải chịu tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây lên là 11%. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt mà bị cáo đã dùng dao là hung khí nguy hiểm chém vào những vị trí trọng yếu trên cơ thể (phần cổ) của bị hại. Tuy nhiên, trong vụ án này, bị hại cũng có một phần lỗi là tác nhân dẫn đến việc bị cáo không kiềm chế được bản thân và có hành vi vi phạm pháp luật. Do vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện nhưng cũng thể hiện sự khách quan, công bằng của pháp luật và có đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tác động tới gia đình bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, bố mẹ đẻ của bị cáo đều là người có công với Cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại yêu cầu bồi thường tổng số tiền là 176.200.000 đồng, gồm: Tiền công ngày lao động người bị hại bị mất trong 03 tháng điều trị phục hồi sức khỏe là 90.000.000 đồng; Tiền phòng điều trị yêu cầu hết 5.200.000 đồng; Chi phí tiền ăn uống, vật dùng cá nhân, mua vật dụng để mổ, truyền nước hết 7.000.000 đồng; Bồi thường tổn thất về tinh thần là 74.000.000 đồng.
Căn cứ vào Điều 590 Bộ luật dân sự; khoản 1, mục 2 Nghị quyết số 02/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo hướng dẫn một số quy định của bộ luật sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Hội đồng xét xử xét thấy thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:
Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của bị hại bao gồm: Tiền viện phí tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình 10.745.816 đồng (có hoá đơn chứng từ) (1).
Các khoản yêu cầu khác như tiền ăn uống, các chi phí khác... do không có hóa đơn chứng từ cụ thể, không nằm trong danh mục quy định các khoản được bồi thường được viện dẫn ở trên nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận.
Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại, người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.
+ Thu nhập bị mất trong thời gian điều trị (bình quân 06 tháng lương liền kề trước của bị hại là 30.000.000 đồng/tháng, có xác nhận của Công ty nơi anh H làm việc về mức lương, thời gian điều trị phục hồi) do vậy căn cứ vào xác nhận của Công ty anh H làm việc có cơ sở chấp nhận: 1.000.000 đồng/ngày x 45 ngày = 45.000.000 đồng (2).
Các khoản yêu cầu bồi thường khác:
+ Tiền bồi thường tổn thất về tinh thần: Xét thấy ỷ lệ tổn thương cơ thể của anh H theo Kết luận giám định là 11%, cần nghỉ ngơi để ổn định tâm lý. Tuy nhiên Hội đồng xét xử thấy chỉ chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần của anh H theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự là 10 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (1.490.000 đồng/tháng ) là 14.900.000 đồng (3).
Tổng số tiền bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại theo quy định của pháp luật là 70.645.816 đồng.
Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 22.000.000 đồng, bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại số tiền là 48.645.816 đồng.
Do bị cáo tác động gia đình bồi thường 22.000.000đồng cho bị hại, đối chiếu với số tiền Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường là chưa được 50% nên căn cứ quy định pháp luật không áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các vấn đề khác trong vụ án:
Anh Vũ Thanh H có hành vi dùng tay đấm vào đầu bị cáo Vũ Công K, nhưng K chỉ bị tổn thương phần mềm, không đi điều trị ở đâu; Vũ Công K không đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh H. Vì vậy, Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Thái Bình đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt tiền, mức phạt 5000.000 đồng đối với anh Vũ Thanh H là phù hợp.
Về vật chứng, tài sản quản lý: Áp dụng Điều 47 Bộ luật dân sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo K đã sử dụng 02 con dao bằng kim loại màu đen, loại dao phay liền cán và lưỡi: 01 con có chiều dài 38cm, đầu dao bằng, có một lưỡi sắc, cán dao dài 13cm, lưỡi dao dài 25 cm; 01 con dao có chiều dài 30cm, đầu dao bằng, có một lưỡi sắc, cán dao dài 10cm, lưỡi dao dài 20cm; mẫu vết máu thu tại hiện trường là hung khí bị cáo K đã gây thương tích cho anh H nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Công K phạm tội “Giết người”.
2. Về điều khoản áp dụng và hình phạt: Áp dụng khoản 2 Điều 123; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38, Điều 57
Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Vũ Công K 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/6/2022.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 590 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Vũ Công K phải bồi thường cho bị hại là anh Vũ Thanh H theo quy định của pháp luật là 70.645.816 đồng. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 22.000.000 đồng, bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại số tiền là 48.645.816 đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 con dao bằng kim loại màu đen, loại dao phay liền cán và lưỡi: 01 con có chiều dài 38cm, đầu dao bằng, có một lưỡi sắc, cán dao dài 13cm, lưỡi dao dài 25 cm; 01 con dao có chiều dài 30cm, đầu dao bằng, có một lưỡi sắc, cán dao dài 10cm, lưỡi dao dài 20cm; mẫu vết máu thu tại hiện trường.
(Các vật chứng và tài sản trên có đặc điểm mô tả như biên bản giao nhận, bảo quản tang vật, tài sản thi hành án giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Thái Bình và Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình ngày 15/02/2023.)
5. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Vũ Công K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.432.250 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 28/4/2023.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Hà Nội - VKSND Cấp cao tại Hà Nội; -VKSND tỉnh Thái Bình; - Công an tỉnh Thái Bình; - Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Kim Hằng |