vanban.org

Bản án 28/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 22/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm g, khoản 2, Điều 173; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự; khoản 2, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ p…

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/11/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm g, khoản 2, Điều 173; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự; khoản 2, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ p…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2023/HS-ST
Ngày: 22/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Phan Thị Kim Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Phạm Minh Thân

Ông: Phan Minh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2023/TLST-HS ngày 02/02/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/QĐXXST-HS ngày 10/02/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1993; Hộ khẩu thường trú: Xóm D, Hòa Nam, huyện H, thành phố H. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn N, sinh năm 1959; con bà: Đỗ Thị N, sinh năm 1955. Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 3. Vợ: Lê Thị Huyền T, sinh năm 1991; con: 01 con sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: 02 tiền án.

- Tại Bản án số 12/HSST ngày 11/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 14.400.000 đồng). Ra trại ngày 28/3/2017 (Chưa được xóa án tích).

- Tại Bản án số 264/HSST ngày 16/12/2020 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, TP. Hà Nội xử phạt 18 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 15.000.000 đồng). Ra trại ngày 09/3/2022 (chưa được xóa án tích).

Bị bắt quả tang ngày 25/11/2023, tạm giữ từ ngày 26/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an Hà Nội (Có mặt).

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1984 (vắng mặt).

HKTT:TDP số 3, phường T, quận N, thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T là đối tượng nghiện hút, mới chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương ngày 09/03/2022, không có công ăn việc làm ổn định. Do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Văn T đã nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản. Khoảng 13h ngày 25/11/2022, T chuẩn bị 01 tua vít, 02 đầu van phá khoá xe máy, 01 tay công, 01 dao bấm rồi cất giấu vào trong túi quần đang mặc trên người, sau đó T bắt xe buýt từ nhà tại xã H, huyện H, thành phố H đến khu vực phường Trung Văn, quận Nam từ Liêm, thành phố Hà Nội mục đích để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 15h cùng ngày thì T xuống xe buýt và đi bộ đến khu vực trường mầm non Phùng Khoang , phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xem có ai để xe máy sơ hở thì trộm cắp. Khi đến cổng trường mầm non Phùng Khoang, T thấy 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, BKS: 29L1-523.95 của anh Nguyễn Văn H, sinh năm: 1984; HKTT: TDP số 3, phường Trung Văn, quậnNam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đứng tên đăng ký chính chủ) đang để bên trong khuôn viên của trường (gần cổng phụ). Quan sát thấy không có người trông giữ xe nên T đã đi bộ lại gần và dùng vam phá khoá đã chuẩn bị từ trước để mở khoá xe. Sau khi mở được khoá xe, T ngồi lên xe nổ máy và đi ra cổng thì bị anh Hoan phát hiện tri hô, T tăng ga bỏ chạy thì anh Hoan đuổi theo kéo lại nên xe bị đổ, T bỏ lại xe máy để bỏ chạy bộ ra ngoài cổng phụ, T bỏ chạy và rút từ trong túi quần ra 01 rao bấm (loại dao gấp) khua về phía người dân truy đuổi sau đó bỏ chạy. Lúc này lực lượng công an phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đi tuần tra đến khu vực trên phát hiện nên đuổi theo bắt giữ được T và thu giữ vật chứng.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) con dao bấm bằng kim loại có tay cầm màu đỏ, dài khoảng 20cm; 01 (một) tay công bằng kim loại sáng màu, tay cầm bọc cao su màu đỏ, đen dài khoảng 16 cm; 02 (hai) đầu vam phá khoá bằng kim loại, có mũi nhọn; 01 (một) tua vít dài khoảng 20cm bằng kim loại, tay cầm bằng cao su màu đỏ; 01 (một) điện thoại di động Masstel màu đen, lắp sim số 093.390.869 và 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, BKS: 29L1-523.95.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 401 ngày 06/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận Nam Từ Liêm, kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng BKS: 29L1-523.95, số khung: 1219DY599994, số máy: HC12E5599467, đăng ký lần đầu ngày 7/04/2015 đã qua sử dụng có trị giá: 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng).

Ngày 01/12/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm đã ra quyết định xử lý vật chứng và tiến hành trao trả 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, BKS: 29L1-523.95 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn H. Anh Hoan đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu về dân sự.

Đối với hành vi của T đã dùng dao khua về phía người dân truy đuổi để bỏ chạy nhưng do T không có hành vi đánh, chém hay xô ngã người đuổi bắt nên Cơ quan cảnh sát điều tra không kết luận xử lý T về tình tiết định khung “Hành hung để tẩu thoát” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Lời khai nhận tội của Nguyễn Văn T phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với lời khai nhân chứng, tang vật đã thu giữ và các tài liệu điều tra khác.

Tại Bản cáo trạng số 30/CT-VKSNTL ngày 01/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thừa nhận lợi dụng sơ hở của bị hại để trộm cắp tài sản đem đi bán lấy tiền tiêu xài.

Đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng số 30/CT-VKSNTL ngày 01/02/2023 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm g, khoản 2, Điều 173; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/11/2022.

Về dân sự: Anh Hoan đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì nên không đề cập

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tịch Thu tiêu hủy

+ 01 (một) con dao bấm bằng kim loại có tay cầm màu đỏ, dài khoảng 20cm;

+ 01 (một) tay công bằng kim loại sáng màu, tay cầm bọc cao su màu đỏ, đen dài khoảng 16 cm;

+ 02 (hai) đầu vam phá khoá bằng kim loại, có mũi nhọn;

+ 01 (một) tua vít dài khoảng 20cm bằng kim loại, tay cầm bằng cao su màu đỏ;

Trả lại cho bị cáo:

+ 01 (một) điện thoại di động Masstel màu đen, lắp sim số 093.390.869

Lời nói sau cùng bị cáo Nguyễn Văn T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các biên bản, tài liệu khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 16h30’ ngày 25/11/2022, tại khu vực trường mầm non Phùng Khoang thuộc phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội), Nguyễn Văn T đã có hành vi trộm cắp chiếc xe máy hiệu Honda Wave BKS: 29L1- 523.95, trị giá 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) của anh Nguyễn Văn H.

Hành vi nêu trên của bị cáo T đã phạm tội Trộm cắp tài sản. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 173 của của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức về điều khiển hành vi, lợi dụng sơ hở của bị hại để thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, hơn nữa bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích cụ thể: Tại Bản án số 12/HSST ngày 11/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội xử phạt 18 tháng giam tù về tội Trộm cắp tài sản và Tại Bản án số 264/HSST ngày 16/12/2020 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, TP. Hà Nội xử phạt 18 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản. Tại biên bản xác minh ngày 12/12/2022 và biên bản xác minh ngày 28/12/2022 bị cáo chưa nộp các khoản như tiền án phí hình sự, án phí dân sự, tiền phạt, tiền hưởng lợi bất chính. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù theo bản án ngày 16/12/2020 vào ngày 09/3/2022, đến ngày 25/11/2022 bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Do vậy lần này bị cáo phạm tội là tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm g, khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự, nên cần phải xử lý nghiêm, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Khi lượng hình phạt, xét bị cáo T tại phiên tòa khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo T còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung, tuy nhiên bị cáo là đối tượng không nghề nghiệp, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về dân sự: Anh Hoan đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

+ 01 (một) con dao bấm bằng kim loại có tay cầm màu đỏ, dài khoảng 20cm;01 (một) tay công bằng kim loại sáng màu, tay cầm bọc cao su màu đỏ, đen dài khoảng 16 cm; 02 (hai) đầu vam phá khoá bằng kim loại, có mũi nhọn; 01 (một) tua vít dài khoảng 20cm bằng kim loại, tay cầm bằng cao su màu đỏ - Cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với: 01 (một) điện thoại di động Masstel màu đen, lắp sim số 093.390.869 bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo T phải nộp theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Về kháng cáo: Bị cáo T, bị hại trong vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điểm g, khoản 2, Điều 173; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự; khoản 2, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/11/2022.

Về dân sự : Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

Xử lý vật chứng:

Tịch Thu tiêu hủy

+ 01 (một) con dao bấm bằng kim loại có tay cầm màu đỏ, dài khoảng 20cm;

+ 01 (một) tay công bằng kim loại sáng màu, tay cầm bọc cao su màu đỏ, đen dài khoảng 16 cm;

+ 02 (hai) đầu vam phá khoá bằng kim loại, có mũi nhọn;

+ 01 (một) tua vít dài khoảng 20cm bằng kim loại, tay cầm bằng cao su màu đỏ;

Trả lại cho bị cáo:

+ 01 (một) điện thoại di động Masstel màu đen, lắp 01 sim

Theo biên bản giao nhận vật chứng số 114 ngày 02/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội

Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ