vanban.org

Bản án 28/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 02/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo T.T.V phạm tội: Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo T.T.V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2022. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T.T.V. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TTV phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo T.T.V phạm tội: Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Y
TỈNH T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2023/HS-ST
Ngày: 04 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH T

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc An

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Duy Chung;

2. Ông Phạm Tiến Hào.

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thúy Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh T tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Y, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2023/TLST-HS, ngày 07 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXXST-HS, ngày 20/3/2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: T.T.V, sinh ngày: 24/02/1990 tại tỉnh T; trú tại: Thôn ĐC, xã TS, huyện Y, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 11/12; Họ và tên bố mẹ ruột không rõ là ai; họ và tên mẹ nuôi: H, sinh năm 1967; họ và tên vợ: D, sinh năm 1995; con: Có 02, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2018;

Tiền án; Tiền sự; Nhân thân: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Anh TM, sinh năm 1980;

Trú tại: Thôn CC, xã L, huyện Y, tỉnh T; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 27/12/2022, T.T.V, trú tại thôn ĐC, xã TS, huyện Y, tỉnh T một mình đi bộ từ xã HL, huyện Y về nhà. Khoảng 12 giờ 30 phút, khi đi đến cánh đồng thuộc thôn CC, xã L, huyện Y, cách khu dân cư khoảng 400 mét, V thấy có 01 (một) con trâu đực, màu đen, có sừng dài khoảng 54cm đang được buộc bằng dây trạc (dây dứa) vào một cái cọc trên thửa ruộng của anh TM, trú tại thôn CC, xã L, quan sát thấy con Trâu không có người trông coi nên V đã nảy sinh ý định trộm cắp con Trâu bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. V tiến đến chỗ cọc buộc Trâu dùng tay cởi sợ dây trạc ra khỏi chiếc cọc rồi dắt, đuổi con trâu đi theo hướng ra xã Q, huyện Y. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, V dắt trâu đi đến thôn Đa, xã Q, V buộc trâu vào khu vực đồi cây rồi đi bộ đến nhà anh H, trú tại thôn HA, xã Q để hỏi bán trâu, khi đến nhà anh Hn do anh Hn đi vắng nên V bảo cháu Va, sinh năm 2009 (con trai anh Hn) gọi điện cho anh Hn để V trao đổi bán trâu với anh Hn nhưng anh Hn không mua. Sau đó, V ngủ qua đêm tại một ngôi nhà hoang gần đó. Đến sáng ngày 28/12/2022, V tiếp tục cột, dấu con trâu tại khu vực đồi cây thôn Đa, xã Q, rồi một mình đi bộ đến xã Ti, huyện Ds để tìm người bán con trâu, trên đường đi V gặp Công an xã Q và Công an xã L đang tổ chức truy tìm con trâu của gia đình anh của anh TM bị trộm cắp. Biết không thể che dấu được hành vi phạm tội của mình nên đến 07 giờ 30 phút cùng ngày, V đã đến Công an xã Q, huyện Y đầu thú và khai nhận toàn bộ về hành vi trộm cắp tài sản của bản thân.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/KLĐG ngày 03/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y, kết luận: 01 (một) con trâu đực, màu đen 05 tuổi, có khối lượng 600 kg tại thời điểm tháng 12/2022 có trị giá là 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng).

Trước Cơ quan điều tra, bị cáo T.T.V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 22/CT-VKSYS, ngày 06 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh T truy tố bị cáo T.T.V có lý lịch nêu trên về tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo T.T.V về tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo T.T.V phạm tội Trộm cắp tài sản.

- Xử phạt bị cáo T.T.V từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2022.

- Không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh TM đã nhận lại con trâu bị trộm cắp và không có yêu, đề nghị gì về phần dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

* Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tạm giữ 01 con trâu đực của gia đình anh TM. Ngày 13/01/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại con trâu cho gia đình anh Td, anh Td không có ý kiến gì về tài sản đã nhận lại nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

* Về án phí và quyền kháng cáo đề nghị áp dụng: Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo vì bị cáo là dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; áp dụng các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo đối với bị cáo, bị hại.

Tại phiên toà bị cáo T.T.V khai nhận bị cáo đã trộm cắp 01 con trâu của anh TM như nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo. Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử cho được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 27/12/2022, tại thôn CC, xã L, huyện Y, tỉnh T: T.T.V đã có hành vi trộm cắp của gia đình anh TM trú tại tại thôn CC, xã L, huyện Y 01 (một) con trâu đực màu đen có trị giá là 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng).

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo nhận thức rõ việc lén lút trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền chi tiêu cá nhân nên đã phạm tội. Do vậy cần có một hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân tốt và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

.Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo T.T.V được áp dụng tình tiết giảm nhẹ: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội đầu thú, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để lên mức án phù hợp đối với bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh TM đã nhận lại con trâu bị trộm cắp và không có yêu, đề nghị gì về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

. Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tạm giữ 01 con trâu đực của gia đình anh TM. Ngày 13/01/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại con trâu cho gia đình anh Td, anh Td không có ý kiến gì về tài sản đã nhận lại nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

. Về án phí: Do bị cáo là dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo theo quy định là phù hợp; Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với anh H, trú tại thôn HA, xã Q, huyện Y, tỉnh T, khi V gọi điện thoại chào bán trâu anh Hn không biết gì về hành vi trộm cắp tài sản của V đã không có căn cứ xử lý trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự :

- Tuyên bố: Bị cáo T.T.V phạm tội: Trộm cắp tài sản.

- Xử phạt bị cáo T.T.V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2022.

2. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T.T.V.

- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Duy Chung - Phạm Tiến Hào

Trần Ngọc An Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh T;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh T;

- VKSND huyện Y;

- Bị cáo; những người tham gia tố tụng;

- CQCSĐT Công an huyện Y;

- Chi cục THADS huyện Y;

- Sở Tư pháp T;

- UBND xã TS;

- Hồ sơ vụ án hình sự;

Trần Ngọc An

- Thi hành án hình sự;

- Lưu HS.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Duy Chung - Phạm Tiến Hào

Trần Ngọc An Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh T;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh T;

- VKSND huyện Y;

- Bị cáo; những người tham gia tố tụng;

- CQCSĐT Công an huyện Y;

- Chi cục THADS huyện Y;

- Sở Tư pháp T;

- UBND xã nơi bị cáo cư trú;

- Hồ sơ vụ án hình sự;

Nguyễn Xuân Thủy

- Thi hành án hình sự;

- Lưu HS.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đặng Thị Huệ – Nguyễn Thu HàNguyễn Xuân Thuỷ

Cỡ chữ