- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đặng Văn K phạm tội Tàng trữ Trái phép Chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2023/HS-ST Ngày: 30/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Doanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Ngọc Tân
2. Bà Phạm Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại Nhà văn hóa xã Quỳnh Hội, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự thụ lý số 27/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Đặng Văn K, sinh ngày 11/12/1983 tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Văn H, sinh năm 1952. Các năm 1975 và 1985, ông H được Nhà nước tặng thưởng Huy chương chiến sỹ giải phóng, Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng 2, là Thương binh loại A và bà: Ngô Thị T, sinh năm 1955; vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1988, đã ly hôn; con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Bản án số 77/2012/HSST ngày 05/10/2012, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, xử phạt 09 tháng tù, về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1, Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999, thi hành xong hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm ngày 19/12/2012, chấp hành xong án phạt tù ngày 06/3/2013. Bản án số 69/2013/HSST ngày 25/9/2013, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, xử phạt 09 tháng tù, phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng, về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1, Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tổng số tiền đánh bạc 4.650.000 đồng); thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm tháng 11/2013, được miễn chấp hành hình phạt bổ sung theo quy định tại điểm d, g khoản 2, Điều 2, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; chấp hành xong án phạt tù ngày 25/01/2014. Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 05/01/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã An Đồng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thời gian 03 tháng. Quyết định số 29/QĐ-TA ngày 10/10/2018, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng, chấp hành xong quyết định ngày 16/4/2020.
Bị tạm giữ từ ngày 06/12/2022 đến ngày 09/12/2022 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
(Bị cáo trích xuất có mặt tại phiên toà).
- Người chứng kiến:
+ Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1961 (vắng mặt)
+ Ông Nguyễn Bá S, sinh năm 1960 (vắng mặt)
Đều trú tại: tổ X, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 30 phút ngày 06/12/2022, tổ công tác Công an huyện Quỳnh Phụ phối hợp cùng Công an thị trấn Q làm nhiệm vụ tại đường tổ X, thị trấn Q, huyện Quỳnh Phụ, phát hiện Đặng Văn K đi bộ có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã yêu cầu về trụ sở Công an thị trấn Q để làm việc. Tại đây, trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1961 và ông Nguyễn Bá S, sinh năm 1960, đều thường trú tại: tổ X, thị trấn Q, huyện Q, tổ công tác kiểm tra, phát hiện tại túi áo khoác ngoài bên trái K mặc 03 gói nhỏ có chung đặc điểm vỏ ngoài là giấy bạc, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. K khai là ma túy, loại Heroine, mua với số tiền 500.000 đồng để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, quản lý niêm phong các gói vật chứng.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Văn K tại thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án.
Kết luận giám định số 454/KL-KTHS(MT) ngày 07/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: “Mẫu vật giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin) có khối lượng là 0,2597 gam (không phẩy hai nghìn năm trăm chín mươi bảy gam). Heroine STT: 09 Danh mục I, Phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ”.
Quá trình điều tra bị cáo Đặng Văn K khai nhận: Do nghiện ma túy (loại Heroine) nên khoảng 10 giờ ngày 06/12/2022, K từ nhà ra đường liên thôn đi nhờ xe của một người không quen biết đến thị trấn Q, huyện Quỳnh Phụ mục đích mua ma túy sử dụng. Tới tổ X, thị trấn Q, huyện Quỳnh Phụ, K xuống xe đi bộ vào con đường nhỏ hỏi mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 03 gói ma túy vỏ ngoài là giấy bạc với số tiền 500.000 đồng. K giấu 03 gói ma túy ở túi áo khoác ngoài bên trái rồi đi bộ tìm nơi sử dụng thì gặp tổ công tác của Công an huyện Quỳnh Phụ yêu cầu về trụ sở Công an thị trấn Q làm việc. Tại đây, trước sự có mặt của những người chứng kiến, tổ công tác tiến hành kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, quản lý, niêm phong 03 gói ma túy (bút lục số 66 - 78).
Cáo trạng số 32/CT-VKSQP ngày 10/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố Đặng Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Đặng Văn K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trong bản Cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đặng Văn K và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sựxử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn từ tính từ ngày 06/12/2022; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng và nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quyết định, hành vi tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh phụ, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo Đặng Văn K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án (bút lục số 66-78); phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản quản lý đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong vật chứng do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ lập hồi 10 giờ 45 phút, 12 giờ 15 phút, 12 giờ 30 phút ngày 06/12/2022 tại Công an thị trấn Q, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (bút lục số 01 - 02; 04 - 05); Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ lập hồi 15 giờ 30 phút ngày 06/12/2022 tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (bút lục số 07); Phiếu xét nghiệm test nhanh Morphin/Heroine ngày 06/12/2022 của Trung tâm y tế huyện Quỳnh Phụ, xác định: Đặng Văn K dương tính với Morphin/Heroine (bút lục số 35); Bản tường trình và biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến ông Nguyễn Văn H và ông Nguyễn Bá S (bút lục số 79 - 88); Cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 10 giờ 30 phút ngày 06/12/2022, tại đường tổ X, thị trấn Q, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, Đặng Văn K có hành vi tàng trữ trái phép ở túi áo khoác ngoài bên trái 03 gói ma tuý, loại Heroine, có khối lượng 0,2597 gam để sử dụng cho bản thân bị Công an huyện Quỳnh Phụ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý:
“1.Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248,250,251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;
c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR
- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
……
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, bởi hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận không tốt trên địa bàn nơi xảy ra vụ án. Tệ nạn ma tuý hiện nay đang là hiểm hoạ của toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; xử phạt tù về tội “Đánh bạc”, nhận thức rất rõ tác hại của ma túy song vẫn thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân là thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2012 bị xử phạt 09 tháng tù, về tội “Đánh bạc”, năm 2013 bị xử phạt 09 tháng tù, về tội “Đánh bạc”, năm 2018 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có bố là người có công với nước nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận định nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán để kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Chất ma túy thu giữ của bị cáo Đặng Văn K hoàn trả lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc các gói ma túy bị cáo Đặng Văn K khai mua của người đàn ông khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ, ở đường tổ X, thị trấn Q, huyện Quỳnh Phụ nên không đủ cơ sở để điều tra, xử lý là có căn cứ.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Đặng Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Đặng Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đặng Văn K 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 06/12/2022.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ 0,2195 gam (không phẩy hai nghìn một trăm chín mươi lăm gam) Heroine hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong phong bì niêm phong số 454/KL-KTHS(MT) của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình.
(Các vật chứng trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 39 ngày 14/3/2023 giữa Công an huyện Quỳnh Phụ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Đặng Văn K phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Đặng Văn K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/3/2023). Nơi nhận:
| - Bị cáo; - VKSND huyệnQuỳnh Phụ;VKSND tỉnh Thái Bình; - Cơ quan điều tra, Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Quỳnh Phụ; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ; - TAND tỉnh Thái Bình; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẤM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Doanh |