vanban.org

Bản án 28/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 31/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dƣơng Hải C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Dƣơng Hải C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Hải C phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dƣơng Hải C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NINH HẢI
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2023/HS-ST
Ngày: 31/7/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Tiên;

Bà Trần Thị Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Qúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa: Ông Tài Đại Diện - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXXST – HS ngày 17 tháng 7 năm 2023 đối với:

Bị cáo Dƣơng Hải C, sinh năm 1995 tại Ninh Thuận. Hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Chỗ ở hiện nay: Thôn M, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Dương Hải C1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thúy H; có vợ Võ Thị P và có 03 người con. Tiền án, Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 09/6/2021 bị Công an thành phố P – T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác (không nộp phạt).

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Bị hại: Anh Trần K, sinh năm: 1988. Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị T, sinh năm 1964. Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Những người làm chứng:

- Chị Võ Thị P1, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).

- Anh Võ T1, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Thôn M, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 16/01/2023, sau khi nhậu xong tại nhà anh Võ M, ở thôn M, xã T, huyện N, Dương Hải C và các anh Võ T1, Võ H1 ra lấy xe đang dựng ngoài đường để đi về thì gặp anh Trần K chạy xe máy tới rồi dừng lại. Anh K khoe với anh T1 chiếc xe mới mua, nói chuyện to tiếng, chửi thề, nẹt pô xe và bị người dân nhắc nhở nên anh K chửi lại. Thấy vậy, C đến nói với anh K “ở đây có người lớn, người nhỏ sao lại chửi vậy” nên giữa anh K và C xảy ra mâu thuẫn thách thức đánh nhau. Được mọi người can ngăn nên K và C đi về. Biết giữa gia đình bên vợ mình với ông Trần N, cha của anh K quen biết nhau, nên khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày C cùng vợ là chị Võ Thị P đến nhà anh K để nói chuyện giải hòa mâu thuẫn lúc chiều nhưng anh K đi biển không có ở nhà và chỉ gặp ông N. Ông N gọi điện thoại nói cho anh K biết có vợ chồng C đến nhà tìm, anh K nghĩ rằng C đến nhà tìm đánh mình. Do vậy anh K cầm theo cây súng bắn cá bằng gỗ (ná) tự chế dài 60cm, có hai dây cao su gắn cố định trên đầu thân súng và 01 mũi tên bằng kim loại dài 61 cm, đường kính 01 cm đến nhà bà Trần Thị T - mẹ vợ của C ở cùng thôn M tìm đánh C. Khi đến, anh K không gặp C mà gặp nói chuyện với chị Võ Thị P1 (chị vợ C) được một lúc, thì C chạy xe máy đến. Thấy anh K cầm súng và mũi tên bắn cá đồng thời có lời nói đe dọa giết mình nên C đi lấy 01 cây rìu cán bằng gỗ dài 27 cm, lưỡi bằng sắt kích thước (9 x 14)cm ra đứng đối diện và nói với anh K “cái gì vậy, tao này”. Thấy anh K dơ súng bắn cá lên thì C nhào vào chụp lấy cây súng rồi dùng cây rìu chém một nhát vào tay trái của anh K. Sau đó, mọi người vào can ngăn và chở anh K đi điều trị tại Bệnh viện tỉnh N.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 45/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 08/3/2023, Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh Ninh thuận kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trần K tại thời điểm giám định là 13%. Cơ chế hình thành vết thương: do vật sắc gây nên. Thương tích cụ thể như sau:

+ Vết thương chéo mặt sau 1/3 giữa cẳng tay trái sẹo liền lõm còn rĩ dịch kích thước (7,7x0,5)cm (03%)

+ Vết thương mổ dọc mặt sau cẳng tay trái nối hai đầu vết thương sẹo liền tốt kích thước (3x0,2) cm (01%); (1,7x0,1)cm (01%). Để lộ đứt hoàn toàn gân duỗi cỏ tay quay dài, gân duỗi cổ tay quay ngắn, gân cơ duỗi các ngón, vận động sấp ngữa cẳng tay bình thường, vận động co duỗi cổ tay, các ngón tay còn hạn chế (03%).

+ Xquang: Gãy 1/3 giữa xương trụ trái chưa có can. (06%)

Quá trình điều tra, Dương Hải C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra đã thu giữ các vật chứng sau:

+ 01 cây súng bắn cá (ná) tự chế bằng gỗ dài 60cm, có hai dây cao su gắn cố định trên đầu thân súng và 01 mũi tên bằng kim loại dài 61cm, đường kính 01cm. Cơ quan điều tra đã quyết định chuyển xử lý theo thủ tục xử phạt vi phạm hành chính.

+ 01 cây rìu cán bằng gỗ dài 27cm, lưỡi bằng kim loại kích thước (9x14)cm.

Về bồi thường dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Dương Hải C đã bồi thường số tiền 4.000.000đ cho bị hại Trần K. Anh K không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bản Cáo trạng số: 26/CT-VKSNH ngày 03/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Dương Hải C về tội “cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T không yêu cầu nhận lại vật chứng là chiếc rìu và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải giữ nguyên quyết định truy tố theo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Hải C mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

+ Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

+ Bị hại Trần K không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện nay đang nuôi vợ, 03 con nhỏ và đang chăm sóc cha vợ bị bệnh. Mong Tòa giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ninh Hải, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Dương Hải C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận giám định pháp y về thương tích và các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 16/01/2023, tại nhà bà Trần Thị T ở thôn M, xã T, huyện N, thấy anh Trần K mang hung khí đến dọa đánh mình nên bị cáo C đã sử dụng cây rìu cán bằng nhựa gỗ dài 27cm, lưỡi bằng kim loại kích thước (9x14)cm là hung khí nguy hiểm chém 01 nhát trúng vào tay trái của anh K. Hậu quả anh K bị tỷ lệ tổn thương cơ thể 13%.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải truy tố bị cáo Dương Hải C về tội “cố ý gây thương tích” thuộc trường hợp “dùng hung khí nguy hiểm” theo quy định tại điểm đ khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Bị cáo Dương Hải C là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc dùng rựa chém vào tay người khác sẽ gây thương tích nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo C là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác lại tiếp tục thực hiện hành vi nghiêm trọng. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo C mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục riêng, đồng thời có tác dụng phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo C không có tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị hại cũng có một phần lỗi vì đã mang hung khí đến nhà tìm và dọa đánh bị cáo, cha vợ bị cáo là người có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, bị cáo C đã bồi thường cho bị hại Trần K 4.000.000 đồng. Tại phiên tòa, anh K không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: 01 cây rìu cán bằng gỗ dài 27cm, lưỡi bằng kim loại kích thước (9x14)cm mà bị cáo C dùng để gây thương tích cho anh K là của bà Trần Thị T. Bà T không yêu cầu nhận lại và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật. Do chiếc rìu không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

UY T ĐỊNH

- Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Dƣơng Hải C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Dƣơng Hải C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 cây rìu lưỡi sắt, cán gỗ có quấn dây cao su, rìu dài 27cm, lưỡi rìu rộng 9cm x 14 cm, cán rìu dài 24cm, đường kính 4cm, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/7/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải.

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo Dương Hải C phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị hại, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 31/7/2023. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án./.

Cỡ chữ