vanban.org

Bản án 28/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Gia T và Nguyễn Gia V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Gia T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 20.9.2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn gia thắng và đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Gia T và Nguyễn Gia V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2023/HS-ST
Ngày: 22.02.2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên

2. Ông Huỳnh Văn Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nội Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 283/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2023/HSST-QĐ ngày 06 tháng 02 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Gia T, sinh năm 1983 tại Đồng Nai; Giới tính: nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 66/6C ấp T, xã T, huyện H, thành phố H; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Phạm Thị G; bị cáo có vợ là Trần Thị H và 02 con lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2012; Nhân thân: Ngày 09/10/2001 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Tiền án: Ngày 06/9/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 24/4/2018, Ngày 17/4/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong ngày 25/4/2022; Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/9/2022 cho đến nay; hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Hóc Môn; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Gia V, sinh năm 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 49/7 ấp T, xã B, huyện H, thành phố H; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị C; bị cáo chưa có vợ con; Nhân thân: Ngày 22/4/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 28/4/2020; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/9/2022 cho đến nay; hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Hóc Môn; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác:

* Bị hại:

1. Bà Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1999. (xin vắng mặt)

Địa chỉ: 63/1 ấp M, xã T, huyện H, Thành phố H.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Vũ Anh T, sinh năm 1984. (vắng mặt)

Thường trú: 57/3B10 khu phố 3, phường T, quận A, Thành phố H.

2. Ông Trần Quốc A, sinh năm 2001. (vắng mặt)

Thường trú: Tổ 5, ấp 4B, xã X, huyện X, tỉnh Đ.

Chỗ ở: 215M Trung Mỹ Tây 5, phường T, quận A, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Gia T và Nguyễn Gia V quen biết nhau khi cùng chấp hành hình phạt tù. Khoảng 16 giờ ngày 19/9/2022, V đến phòng trọ của T tại 63/4H ấp Mỹ Hòa 3, xã T, huyện H chơi. Tại đây, V rủ T đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. T đồng ý và đưa cho V 02 đầu đoản bằng kim loại, 01 khóa 8 để làm dụng cụ bẻ khóa xe máy. Sau đó, T điều khiển xe máy biển số 60B5-844.31 chở V đi tìm tài sản trộm cắp. Khi đi ngang qua nhà số 63/1 ấp Mỹ Hòa 1, xã Tân Xuân thì phát hiện thấy xe máy biển số 50Y1-796.40 của chị Nguyễn Thị Huyền T đang dựng trước nhà, xe không khóa cổ, chị T đang dạy học Anh văn cho học sinh, V nói T vòng xe lại, dừng cách 03 mét cảnh giới, V đi đến dùng đoản mở khóa xe. Sau khi mở được khóa, V điều khiển xe máy biển số 51Y1-796.40 tẩu thoát, T điều khiển xe máy biển số 60B5-844.31 chạy theo sau. Cả hai đem xe máy vừa trộm cắp được về phòng trọ của T cất giấu.

Sau khi phát hiện xe máy biển số 59Y1-796.40 bị mất trộm, chị T đến Công an xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn trình báo. Công an xã cùng với chị T kiểm tra định vị thì phát hiện xe đang ở vị trí dãy nhà trọ số 63/4H ấp Mỹ Hòa 3, xã Tân Xuân nên tiến hành kiểm tra, phát hiện xe đang cất giấu tại phòng trọ của T, lúc này, Tg và V đều có mặt tại nơi cất giấu xe máy nên lập biên bản và đưa hai đối tượng về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan điều tra, T, V khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Kết luận số 148/KL-HĐĐGTS ngày 21/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn định giá xe máy hiệu Honda Vision biển số 50Y1-796.40 có giá là 32.000.000 đồng.

Vật chứng:

- 01 xe máy biển số 50Y1-796.40, cơ quan điều tra đã trả cho bị hại Nguyễn Thị Huyền T.

- 01 xe máy biển số 60B5-844.31, số khung MH1JM9114LK308473, số máy JM91E1302163, qua xác minh là xe máy có biển số 59G2-894.09 do anh Vũ Anh T đứng tên chủ sở hữu, ngày 27/3/2021 bị mất trộm tại khu đất trống, tổ 5, khu phố 7, phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12. T khai mượn xe của người bạn tên Mập (chưa xác định lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn đã chuyển xe máy cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12 xử lý theo thẩm quyền. Kết quả xác minh đối với biển số 60B5-844.31 là của xe máy hiệu Honda RSX có số khung RLHJA3802GY103603, số máy JA38E0217744, do anh Trần Quốc A đứng tên chủ sở hữu, anh đang quản lý và sử dụng xe máy này. Do đó xác định biển số trên là biển số giả.

- 02 đầu đoản bằng kim loại (01 đầu hình lục giác, 01 đầu dẹp nhọn), 01 chìa khóa 8;

- 01 áo thun ngắn tay màu trắng, phía trong cổ áo có dòng chữ “ZUOBEN”; 01 áo thun ngắn tay màu đen, phía trong cổ áo có dòng chữ “DSQUARED 2M”; 02 quần thun ngắn màu đen, là trang phục T và V mặc khi trộm cắp tài sản;

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone X thu giữ của Nguyễn Gia V, 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y33S thu giữ của Nguyễn Gia T không sử dụng vào việc phạm tội.

Về dân sự: bị hại Nguyễn Thị Huyền T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác.

Tại Bản cáo trạng số 16/CT-VKS-HS ngày 22 tháng 12 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn để xét xử bị cáo Nguyễn Gia T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Gia V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị tuyên bị cáo Nguyễn Gia T, Nguyễn Gia V phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Gia T từ 03 năm đến 04 năm tù; Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Gia V từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Tịch thu tiêu hủy: 02 đầu đoản bằng kim loại (01 đầu hình lục giác, 01 đầu dẹp nhọn), 01 chìa khóa 8; 01 áo thun ngắn tay màu trắng, phía trong cổ áo có dòng chữ “ZUOBEN”; 01 áo thun ngắn tay màu đen, phía trong cổ áo có dòng chữ “DSQUARED 2M”; 02 quần thun ngắn màu đen và 01 biển số xe 60B5-844.31.

Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone X cho bị cáo Nguyễn Gia V, 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y33S cho bị cáo Nguyễn Gia T.

Bị cáo Nguyễn Gia T và Nguyễn Gia V khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và xin được hưởng mức án nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Gia T và Nguyễn Gia V khai nhận: Bản thân vì mục đích vụ lợi cá nhân, vào ngày 19/9/2022, bị cáo V rủ bị cáo T đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài thì T đồng ý. Tại nhà số 63/1 ấp Mỹ Hòa 1, xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn, các bị cáo có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của bị hại 01 xe máy hiệu Honda Vision biển số 50Y1-796.40 trị giá 32.000.000 đồng.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các vật chứng cùng các tài liệu thể hiện tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Nguyễn Gia V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Bị cáo Nguyễn Gia T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo T có 02 tiền án, đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm sở hữu tài sản của công dân, mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương tạo ra một dư luận xấu trong nhân dân. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét về nhân thân, tính chất mức độ và hậu quả của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.

Về nhân thân bị cáo Nguyễn Gia T:

Ngày 09/10/2001 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tiền án:

+ Ngày 06/9/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 24/4/2018.

+ Ngày 17/4/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong ngày 25/4/2022.

Tiền sự: không.

Về nhân thân bị cáo Nguyễn Gia V:

Ngày 22/4/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 28/4/2020.

Tiền án, tiền sự: không.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.

Tình tiết tăng nặng: không có.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe máy biển số 50Y1-796.40, cơ quan điều tra đã trả cho bị hại Nguyễn Thị Huyền T.

- Đối với 01 biển số xe 60B5-844.31, qua xác minh biển số là của xe máy hiệu Honda RSX có số khung RLHJA3802GY103603, số máy JA38E0217744, do anh Trần Quốc A đứng tên chủ sở hữu, anh A đang quản lý và sử dụng xe máy này. Do đó xác định biển số trên là biển số giả nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 02 đầu đoản bằng kim loại (01 đầu hình lục giác, 01 đầu dẹp nhọn), 01 chìa khóa 8 dùng vào việc phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 áo thun ngắn tay màu trắng, phía trong cổ áo có dòng chữ “ZUOBEN”; 01 áo thun ngắn tay màu đen, phía trong cổ áo có dòng chữ “DSQUARED 2M”; 02 quần thun ngắn màu đen, là trang phục T và V mặc khi trộm cắp tài sản, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone X của bị cáo Nguyễn Gia V và 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y33S của bị cáo Nguyễn Gia T không sử dụng vào việc phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: do không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Gia T và Nguyễn Gia V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Gia T 03 (ba) năm tù.

Thời hạn tù được tính từ ngày 20.9.2022.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Gia V 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù được tính từ ngày 20.9.2022.

3. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 02 đầu đoản bằng kim loại (01 đầu hình lục giác, 01 đầu dẹp nhọn), 01 chìa khóa 8; 01 áo thun ngắn tay màu trắng, phía trong cổ áo có dòng chữ “ZUOBEN”; 01 áo thun ngắn tay màu đen, phía trong cổ áo có dòng chữ “DSQUARED 2M”; 02 quần thun ngắn màu đen và 01 biển số xe 60B5-844.31.

Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone X cho bị cáo Nguyễn Gia V và 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y33S cho bị cáo Nguyễn Gia T.

(Vật chứng của vụ án do Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 14/QĐ-VKS-HS ngày 21/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn)

3. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án;

Mỗi bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ