- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Hoàng N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lâm Hoàng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2023/HS-ST Ngày 31 – 10 - 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Công Đoàn
Ông Tạ Thanh Bự
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên toà: Ông Trần Chí Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi và điểm cầu thành phần Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Lâm Hoàng N, sinh ngày 20 tháng 3 năm 1997 tại tỉnh Cà Mau; địa chỉ cư trú: Ấp TT, xã TD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn D và bà Nguyễn Thị M; vợ: Ngô Thị Huyền T; con: 01 người; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/6/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 19/8/2021. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 11/8/2023 cho đến nay (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Huỳnh N1, luật sư cộng tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị hại:
1. Anh Vũ Lê Trường G, sinh năm 1987; địa chỉ cư trú: K 1, thị trấn ĐD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
2. Anh Trương Hoàng V, sinh năm 1991; địa chỉ cư trú: Ấp TĐ, xã TD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ ngày 12/5/2023, Lê Hoàng N đến nhà nghỉ “Huỳnh Nga” thuộc khóm 1, thị trấn Đầm Dơi, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau để thuê phòng nghỉ. Tại đây, Nam gặp Phạm Văn D1 quen biết từ trước. Sau đó, D1 và N đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của anh Trương Hoàng V nên lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha màu đỏ - đen – bạc, biển kiểm soát 69F1 – 00176 của anh.
Khoảng 23 cùng ngày, Nam đến quán nhậu “Vũ Hải” thuộc khóm 1, thị trấn Đầm Dơi, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Tại đây, N tiếp tục đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của anh Vũ Lê Trường G nên đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha màu đỏ - đen – bạc, biển kiểm soát 69F1 – 00702 của anh G. Sau đó, N điều khiển xe trộm được đến khu vực Cầu Sông Đầm gặp D1. D1 kêu N điều khiển xe đến Ngã Tư Chà Là, xã Trần Phán đậu trước tiệm sửa xe, rồi có người rước N về. N điều khiển xe đến tiệm sửa xe gần Ngã tư Chà Là rồi đậu xe cặp mé lộ trước tiệm sửa xe. N đi bộ ngược lại Ngã tư Chà là thì có người thanh niên điều khiển xe rước N đến nhà Nguyễn Chí H ở ấp Bờ Đập, xã Trần Phán để ngủ. Sau đó N lên tỉnh Đồng N để làm thuê. Đến ngày 07/8/2023, N bị công an mời làm việc và đã thừa nhận hành vi như trên.
Tại bản kết luận về việc định giá tài sản số 24 và 26/KL-ĐGTS ngày 10/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đầm Dơi kết luận: Chiếc xe của anh G trị giá 7.000.000đ và xe của anh V trị giá 5.500.000đ.
Từ những tình tiết nêu trên, tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi đã truy tố bị cáo Lâm Hoàng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
- Người bào chữa cho bi cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết bị cáo chưa tiền án, tiền sự; trình độ học vấn thấp; không hưởng lợi từ việc trộm; hộ nghèo; lao động chính; đang nuôi con nhỏ; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, từ đó giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Tuyên bố: Lâm Hoàng Nam phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Lâm Hoàng N từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 585 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo N bồi thường cho anh G số tiền 7.000.000đ.
Về xử lý vật chứng: Không thu giữ được nên không yêu cầu xử lý.
Về án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm: Bị cáo N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật hiện hành.
Đối với đối tượng Lê Gia T1 và Phạm Văn D thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô với Lâm Hoàng N (theo lời trình bày của N) vào ngày 02/3/2023 và ngày 12/5/2023. Quá trình điều tra D1 và T1 đã bỏ địa phương, chưa xác định được địa chỉ, nơi ở. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đầm Dơi tách ra, tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ, khi nào có căn cứ xử lý sau.
Đối với vụ Lâm Hoàng N lấy trộm xe mô tô của bà Trần Huỳnh M1 vào ngày 02/3/2023, đến nay chưa làm việc được với bà M1. Do đó, không có thông tin, giấy tờ liên quan đến xe mô tô của bà M1 bị mất, không có cơ sở để định giá tài sản xử lý theo quy định. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đầm Dơi tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ, khi nào làm việc được với bà M1 sẽ đề nghị xử lý sau.
Lời nói sau cùng: Bị cáo yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Lâm Hoàng Nam thừa nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi truy tố, cụ thể: Vào khoảng 21 giờ và 23 giờ ngày 12/5/2023, tại nhà nghỉ “Huỳnh Nga” và quán nhậu “Vũ Hải” thuộc khóm 1, thị trấn Đầm Dơi, huyện Đầm Dơi, N đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản nên lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt của anh Giang 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha màu đỏ - đen – bạc, biển kiểm soát 69F1 – 00702 với giá trị tài sản là 7.000.000 đồng và của anh V 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha màu đỏ - đen – bạc, biển kiểm soát 69F1 – 00176 với giá trị tài sản là 5.500.000 đồng.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Do đó, hành vi của bị cáo N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi đã truy tố.
Xét tính chất và mức độ về hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bởi lẽ, trước và trong khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, là vi phạm pháp luật hình sự, nhưng với bản tính lười lao động, thích hưởng thụ, bất chấp và xem thường pháp luật nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã làm xấu tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết như: Bị cáo phạm tội có một tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, Hội đồng xét xử có xem xét về nhân thân của bị cáo đó là: Ngày 28/6/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đề nghị của người bào chữa tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi, Hội đồng xét xử nhận thấy: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, trách nhiệm dân sự, vật chứng và án phí là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có xem xét đầy đủ hành vi, tính chất, mức độ, hậu quả, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi và người bào chữa cho bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Đó là, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định để có thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản do bị cáo trộm của anh V đã được nhận lại, anh V không yêu cầu bồi thường, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Đối với tài sản của anh G cần buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường theo giá trị của Hội đồng định giá tài sản huyện Đầm Dơi là 7.000.000 đồng.
Về án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm: Bị cáo N thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật hiện hành.
Đối với hành vi của Lê Gia T1 và Phạm Văn D1: Trong quá trình điều tra D1 và T1 đã bỏ địa phương, chưa xác định được địa chỉ. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đầm Dơi tách ra, tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ, khi nào có căn cứ xử lý sau là phù hợp.
Đối với hành vi Lâm Hoàng N lấy trộm xe mô tô của bà Trần Huỳnh M1: Do không có cơ sở để định giá tài sản xử lý theo quy định nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đầm Dơi tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ, khi nào làm việc được với bà M1 sẽ đề nghị xử lý sau là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Lâm Hoàng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lâm Hoàng N 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 11/8/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 589 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Lâm Hoàng N phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh Vũ Lê Trường G số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).
Kể từ ngày anh Vũ Lê Trường G có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Lâm Hoàng N chậm thi hành khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng Lâm Hoàng N còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.
3. Về án phí hình sự và dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Lâm Hoàng N được miễn án phí hình sự và dân sự sơ thẩm.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại Vũ có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Giang có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi; - Cơ quan điều tra Công an huyện Đầm Dơi; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trƣơng Minh Thịnh |