- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quang Đ + đồng phạm: vận chuyển mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lê Q Đ phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Minh Q phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 250 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2023/HS - ST Ngày: 28/02/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Chu Hồng Thái.
2. Ông Nguyễn Văn Mười.
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Hồng Thanh, Thư ký TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lã Thị Tiến, Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 05/2023/TLST - HS ngày 11 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo:
Họ và tên: LÊ Q Đ, sinh ngày 20/9/1999
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm L, xã C, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lái xe. Con ông: Lê Văn T, sinh năm 1974; Con bà: Nguyễn Thị P, sinh năm 1972. Vợ, con: Chưa có. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2022, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: NGUYỄN MINH Q, sinh ngày 04/8/1999;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm P, xã V, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Nơi ở hiện tại: Tổ 9, phường Thịnh Đán, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lái xe. Con ông: Nguyễn Minh C, sinh năm 1968; Con bà: Vũ Thị D, sinh năm 1975. Vợ, con: Chưa có. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/2022, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có QLNVLQ: Công ty TNHH dịch vụ taxi Miền Bắc - Taxi An Bình Thái Nguyên. Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Tiến D, sinh năm 1960 - Địa chỉ: Tổ 12, p Quang Trung, TP Thái Nguyên, Thái Nguyên (Vắng mặt);
* Người chứng kiến: Anh Chu Văn C, sinh năm 1982 (Vắng mặt).
Trú quán: TDP S, TT H, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 15 phút ngày 15/9/2022, tại Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Tổ công tác Công an huyện Đại Từ đã phát hiện 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu i10 màu trắng, BKS: 20A-AAAAA do Lê Q Đ điều khiển có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra đối với Đ thì Đ tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong túi quần phía trước bên trái Đ đang mặc và Khai nhận bên trong có chứa chất ma túy tổng hợp có tên thường gọi là “Ke” “Kẹo” của Nguyễn Minh Q thuê Đ vận chuyển từ Thành phố Thái Nguyên lên Thị trấn H, huyện Đại Từ để bán cho khách. Tổ công tác Công an huyện Đại Từ đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đ về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ là 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, bên trong đựng 02 gói giấy màu trắng, trong mỗi gói giấy chứa 01 túi nilon chứa 20 viên nén màu hồng, không rõ hình dạng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Poco, màu đen và 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai I10, màu trắng BKS 20A-257.19.
Hồi 10 giờ 00 phút ngày 16/9/2022, Cơ quan CSĐT đã tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Lê Q Đ. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Căn cứ vào các tài liệu điều tra, xác minh đã thu thập được, hồi 10 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đại Từ tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Nguyễn Minh Q tại Tổ 9, phường Thịnh Đán, Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, Kết quả khám xét thu giữ các đồ vật, tài liệu gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S10+ màu trắng bên trong lắp sim số thuê bao 0359006609 (Niêm phong vào phong bì ký hiệu X); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng gold bên trong lắp sim số thuê bao 0878212383 (Niêm phong vào phong bì ký hiệu Y).
Hồi 12 giờ 00 phút cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đại Từ phối hợp cùng VKSND huyện Đại Từ, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong, cân toàn bộ các cục chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 20 viên nén màu hồng không rõ hình dạng và lấy mẫu vật giám định theo quy định.
Tại Kết luận giám định số 1450/KL-KTHS ngày 23/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamin, khối lượng thu giữ ban đầu là 5,968 gam. 02 (hai) viên nén màu hồng trong bì niêm phong ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA, khối lượng thu giữ ban đầu là 7,525 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Q Đ và Nguyễn Minh Q cùng khai nhận như sau: Bản thân Q làm nghề lái xe taxi và quen biết một người tên là Tú (Q không rõ lai lịch và địa chỉ) có bán trái phép chất ma túy tại địa bàn Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Đến khoảng giữa tháng 8 năm 2022, do xe ô tô của Q bị hỏng nên Q không có phương tiện để lái xe taxi và không có thu nhập nên Q đã nảy sinh ý định mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời. Qua mạng xã hội, Q đã giao dịch bán ma túy cho 01 người đàn ông có sử dụng số điện thoại 0904489212 (Q không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này). Đến khoảng 19 giờ 00 phút ngày 15/9/2022, người đàn ông trên đã đặt mua của Q số lượng chất ma túy gồm 05 "chỉ" ma túy tổng hợp dạng "Ke" và 20 viên ma túy tổng hợp "Kẹo" với số tiền 12.600.000 đồng. Sau đó Q liên hệ qua mạng xã hội Telegram với người nam giới tên là Tú để mua của Tú 7,525 gam chất ma túy, loại MDMA và 5,968 gam chất ma túy, loại Ketamin với giá 08 triệu đồng nhưng Q chưa trả tiền cho Tú. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, một người đàn ông không quen biết gọi điện thoại đến cho Q và bảo Q đi đến chân cột điện ở cổng trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên để lấy ma túy. Sau đó Q đã đến địa điểm trên lấy 01 bao thuốc Thăng Long màu vàng bên trong có 7,525 gam chất ma túy, loại MDMA và 5,968 gam chất ma túy, loại Ketamin. Lấy được ma túy, Q mang về phòng trọ của Q ở Tổ 9, phường Thịnh Đán, Thành phố Thái Nguyên rồi Q gọi điện cho Lê Q Đ để thuê Đ vận chuyển ma túy đến Thị trấn H, huyện Đại Từ giao cho khách với giá 600.000 đồng tiền công vận chuyển, Đ đồng ý. Sau đó Đ điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Hyundai i10, màu trắng BKS 20A - 257.19 của Công ty trách nhiệm hữu hạn dịch vụ taxi Miền Bắc - Taxi Bình An Thái Nguyên đến gặp Q tại đường bê tông gần cổng phòng trọ của Q. Tại đây Q đã đưa cho Đ 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong chứa 7,525 gam chất ma túy, loại MDMA và 5,968 gam chất ma túy, loại Ketamin. Trên đường đi Q đã gửi vị trí của khách mua chất ma túy cho Đ qua mạng xã hội Zalo và dặn Đ phải thu về số tiền 12.600.000 đồng cho Q (Trong đó bao gồm 12 triệu đồng tiền bán ma túy và 600.000 đồng tiền công vận chuyển cho Đ). Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày Đ mang số ma túy nêu trên vận chuyển đến khu vực Tổ dân phố C, Thị trấn H, huyện Đại Từ thì bị Tổ công tác Công an huyện Đại Từ phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.
Vật chứng của vụ án gồm:
+ 07 (bảy) bì niêm phong có ký hiệu là: A1, A2, A3 , A4 ( bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu); B (bên trong là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Poco màu đen thu giữ của Đ), X (bên trong là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Q) và Y (bên trong là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE thu giữ của Q) hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng thuộc Công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên chờ xử lý.
+ 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai i10, màu trắng BKS 20A - 257.19 là tài sản của Công ty TNHH dịch vụ taxi Miền Bắc - Taxi Bình An Thái Nguyên do ông Lê Tiến Dũng là đại diện theo ủy quyền. Qúa trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Dũng quản lý và sử dụng.
+ 01 chiếc điện thoại Iphone 7 Q sử dụng để liên lạc với Đ thì Q đã bỏ vào thùng rác ở cổng nhà trọ nơi Q ở đồng thời xóa hết lịch sử và toàn bộ dữ liệu lưu trữ trên điện thoại nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSĐT ngày 09/01/2023, VKS nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Lê Q Đ về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” và truy tố Nguyễn Minh Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 250 và điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKS giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị HĐXX. Tuyên bố: bị cáo Lê Q Đ phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Minh Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm 0 khoản 2 Điều 250 và điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt: bị cáo Lê Q Đ và bị cáo Nguyễn Minh Q, mỗi bị cáo mức án từ 07 đến 07 năm 06 tháng tù. Không đề nghị phạt bổ sung; đề nghị xử lý vật chứng và buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Trong phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Nói lời sau cùng: đều xin được giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét khách quan toàn bộ các chứng cứ, ý kiến đề nghị của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những tài liệu chứng cứ khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an huyện Đại Từ, Điều tra viên; VKS nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
. Xét hành vi của các bị cáo, thấy:
Tại phiên tòa bị cáo Lê Q Đ và Nguyễn Minh Q khai nhận: Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 15/9/2022 tại khu vực Tổ dân phố C, Thị trấn H, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Lê Q Đ đang thực hiện hành vi vận chuyển thuê cho Nguyễn Minh Q 7,525 gam chất ma túy, loại MDMA và 5,968 gam chất ma túy, loại Ketamin để Q bán cho khách lấy số tiền 12,6 triệu đồng (Trong đó có 12 triệu đồng tiền bán ma túy của Q và 600.000 đồng tiền công vận chuyển của Đ). Khi Đ chưa kịp giao ma túy cho khách và lấy tiền thì bị Tổ công tác Công an huyện Đại Từ phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Các bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật; các bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy và các quy định của pháp luật trong việc mua bán, vận chuyển chất ma túy nhưng các bị cáo vẫn cố tình mua bán và vận chuyển trái phép chất ma túy nhằm mục đích để kiếm lời và hưởng lợi. Như vậy, hành vi của bị cáo Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 250 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. VKS nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Nội dung Điều 250 BLHS quy định như sau:
"1. Người nào vận chuyển trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
... o) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm n khoản này".
Nội dung điều 251 BLHS quy định như sau:
"1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
... p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này".
. Xét tính chất vụ án: tính chất của vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý của Nhà nước trong việc mua bán, vận chuyển chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Trong vụ án này bị cáo Q là người thuê bị cáo Đ vận chuyển ma túy với mục đích mang đi bán để kiếm lời; bị cáo Đ vận chuyển chất ma túy cho Q với mục đích để được hưởng tiền công nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm độc lập về hành vi phạm tội của mình.
. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
. Xét nhân thân của các bị cáo: các bị cáo đều là những người có tuổi đời còn rất trẻ, đều xuất thân từ gia đình lao động, được nuôi ăn học, có đầy đủ nhận thức các việc làm đúng sai của bản thân, tuy nhiên do không chịu tu dưỡng, rèn luyện nên vì lợi nhuận và hám lời nên các bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
. Về hình phạt: Căn cứ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. HĐXX thấy, mặc dù các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự; hành vi phạm tội có tính chất giản đơn; có thái độ thành khẩn khai báo nhưng các bị cáo đều phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Vì vậy, cần thiết phải có hình phạt tù nghiêm khắc đối với bị cáo mới đảm bảo tính dăn đe giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt HĐXX cần cân nhắc, xem xét đến các yếu tố nhân thân, tuổi đời ... để có mức hình phạt cho phù hợp, tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa trở thành công dân tốt.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy, cần phạt các bị cáo một khoản tiền nhất định theo quy định để sung công quỹ Nhà nước.
. Về vật chứng của vụ án và trách nhiệm dân sự có liên quan:
+ 04 (bốn) bì niêm phong có ký hiệu là: A1, A2, A3, A4 (bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu). Đây là vật chứng của vụ án Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
+ B (bên trong là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Poco màu đen thu giữ của Đ), X (bên trong là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Q). Đây là những chiếc điện thoại bị cáo Đ và Q dùng để liên lạc với nhau trong quá trình vận chuyển ma túy và định vị xe ô tô, xác định là công cụ phương tiện phạm tội cần được tịch thu sung quỹ. Y (bên trong là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE thu giữ của Q). Xác định không liên quanđến vụ án cần trả lại cho bị cáo Q nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
+ 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai i10, màu trắng BKS 20A - 257.19 là tài sản của Công ty TNHH dịch vụ taxi Miền Bắc - Taxi Bình An Thái Nguyên do ông Lê Tiến Dũng là đại diện theo ủy quyền. Qúa trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Dũng quản lý và sử dụng, ông Dũng cũng không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
+ 01 chiếc điện thoại Iphone 7 Q sử dụng để liên lạc với Đ thì Q đã bỏ vào thùng rác ở cổng nhà trọ nơi Q ở đồng thời xóa hết lịch sử và toàn bộ dữ liệu lưu trữ trên điện thoại nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
. Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí HSST sung quỹ Nhà nước.
. Các nội dung có liên quan khác:
Trong vụ án này bị cáo Q khai mua ma túy của người nam thanh niên tên Tú nhưng không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ và bán cho người đàn ông có số điện thoại là 0904489212. Do không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể của Tú và người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý đối với những người đàn ông này.
Liên quan đến chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai i10, màu trắng BKS 20A-257.19, khi Đ sử dụng chiếc xe đi vận chuyển ma túy kiếm lời thì Đ không nói và Công ty TNHH dịch vụ taxi Miền Bắc - Taxi Bình An Thái Nguyên và người đại diện theo ủy quyền biết nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm đối với Công ty TNHH dịch vụ taxi Miền Bắc.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Lê Q Đ phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Minh Q phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng: điểm o khoản 2,5 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: bị cáo Lê Q Đ 07 (bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/9/2022.
Áp dụng: Điều 329 BLTTHS quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Phạt bổ sung bị cáo Lê Q Đ 5000.000đ (năm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
2. Áp dụng: điểm p khoản 2,5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Minh Q 07 (bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2022.
Áp dụng: Điều 329 BLTTHS quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Minh Q 5000.000đ (năm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
* Vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS.
+ Tịch thu tiêu hủy: 04 (bốn) bì niêm phong có ký hiệu là: A1, A2, A3 , A4 (bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu).
+ Tịch thu sung quỹ: B (bên trong là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Poco màu đen thu giữ của Đ) và X (bên trong là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của Q).
+ Trả lại cho bị cáo Q Y (bên trong là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE thu giữ của Q) nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng như mô tả trong quyết định chuyển vật chứng số 08/QĐ - VKSĐT ngày 09/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và các biên bản giao nhận vật chứng kèm theo).
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Luật án phí lệ phí; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Q Đ và Nguyễn Minh Q, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST sung quỹ nhà nước.
Án xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo, người có QLNVLQ biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với người có mặt và kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định đối với người vắng mặt.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - Sở tư pháp tỉnh TN; - VKSND tỉnh + huyện Đại Từ; - Công an huyện Đại Từ; - THAHS + THADS Đại Từ; - Bị cáo, Bị hại; - UBND xã ; - Lưu hồ sơ + VT. | TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Kiên |