- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH __________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2023/HS-PT Ngày: 09 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Minh Tự
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mến
Ông Nguyễn Văn Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2023/TLPT-HS, ngày 24/4/2023 đối với bị cáo Lê Ngọc T do có kháng cáo của bị hại Huỳnh O đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2023/HS-ST, ngày 15 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh.
- Bị cáo không có kháng cáo: Lê Ngọc T, sinh ngày 07/3/1981 tại tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn D, sinh năm 1945 (chết) và bà Trần Thị S, sinh năm 1945 (chết); có vợ và 02 người con; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: tốt; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/10/2022 cho đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại có kháng cáo: Ông Huỳnh O, sinh năm 1958. Nơi cư trú: Khóm Z, thị trấn T, huyện D, tỉnh Trà Vinh (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Huỳnh O: Luật sư Phan Văn H – Công ty luật TNHH MTV Phan Văn H, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Trà Vinh. (có mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị A, sinh năm 1966. Nơi cư trú: Nơi cư trú: khóm Z, thị trấn T, huyện D, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn trước trong gia đình, khoảng 09 giờ ngày 20/6/2022 Huỳnh O và vợ là Lê Thị A đến trước cửa nhà ông Lê Phước U (em vợ O) để kêu con ruột là Huỳnh Minh A về nhà, thì U và O xảy ra cự cãi nên bà Lê Phước C (em ruột U) gọi điện thoại Lê Ngọc T nói cho T biết để đến can ngăn. Sau đó, T điều khiển xe mô tô từ ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh đến và nhìn thấy O đang lớn tiếng định đánh C nên T xuống xe cầm đoạn sắt có sẵn trên xe (loại sử dụng làm hồ) dài 70cm đi đến đánh Huỳnh O hai cái trúng vào vùng lưng, vùng vai phải và vùng đầu, O quay người lại cả hai giằng co và T dùng chân phải quật mạnh làm O té ngã xuống đất và làm đoạn sắt rơi khỏi tay T, T tiếp tục dùng tay đánh liên tiếp vào người O, thì bà Lê Mỹ H (vợ O) can ngăn và T nhặt được đoạn sắt đánh với về phía O nhưng không trúng. Sau đó, mọi người căn ngăn, O được người thân đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích của trung tâm pháp y sở y tế tỉnh Trà Vinh số: 116/22/TgT ngày 21/9/2022 của Trung tâm pháp y sở ý tế tỉnh Trà Vinh kết luận: (1) Đứt dây chằng chéo trước phải + cộng dây chằng bên trong gối phải đã phẫu thuật điều trị phục hồi 15%; (2) Ba sẹo nhỏ (sẹo mổ) vùng mặt trước gối phải 03%; (3) Sẹo nhỏ (sẹo mổ) vùng mặt ngoài đầu dưới cẳng chân phải 1%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của bị hại O là 18% theo nguyên tắc cộng tại thông tư và theo công văn số 22/TLCV trả lời: Đứt dây chằng chéo trước + dây chằng bên trong gối phải là do: Tác động va chạm mạnh trực tiếp vào vật tày cứng gây căng đứt, đoạn sắt dài 70cm, đường kính 6,5cm, hình tròn trên thân có đường vân mà cơ quan điều tra đã thu trong vụ án trên không thể gây ra tổn thương trên.
Vật chứng tạm giữ: 01 đoạn sắt dài 70cm, đường kính 6,5cm, hình tròn trên thân có đường vân, ở hai đầu đoạn sắt có hai móc (loại sắt dùng làm cây càng cua để bẻ sắt phục vụ trong xây dựng) bị rỉ sét, đã qua sử dụng và 01 bì thư bằng giấy màu trắng có kích thước 13,3cm x 18,5cm. Trên bì thư có hai dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Trà Vinh và Công an thị trấn T, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Có chữ ký và ghi họ tên của: Nguyễn Chí Ơ – ĐTV; Dương Hữu I; Thạch Chí S; bì thư có ký hiệu “K6”. Bên trong bì thư niêm phong 01 thẻ nhớ màu đen, trên thẻ nhớ có ghi nội dung “Gigastone 1GB Miro”.
Ngày 30/9/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đến ngày 14/10/2022 ra quyết định khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Lê Ngọc T về tội “Cố ý gây thương” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Huỳnh O yêu cầu bồi thường thiệt hại tổng cộng 148.400.000 đồng, bị cáo Lê Ngọc T chỉ đồng ý bồi thường 20.000.000 đồng và đã nộp Cơ quan thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Trà Vinh.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2023/HS-ST ngày 15/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Ngọc T 02 (hai) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và dành quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 27/02/2023, bị hại Huỳnh O kháng cáo toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 06/2023/HS-ST ngày 15/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Lê Ngọc T thừa nhận hành vi phạm tội và thống nhất với Bản án sơ thẩm đã tuyên, đối với bị hại Huỳnh O lúc đầu vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nhưng quá trình tranh tụng với sự giúp đỡ về mặc pháp lý của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, bị hại Huỳnh O đã rút lại yêu cầu kháng cáo đối với yêu cầu tăng trách nhiệm hình sự từ hưởng án treo sang tù giam đối với bị cáo Lê Ngọc T, rút lại yêu cầu không xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông Lê Phước U và bà Lê Phước C, rút một phần yêu cầu bồi thường tiền ngày công lao động, chỉ còn yêu cầu bị cáo bồi thường thêm ngày công lao động 30.000.000 đồng, các nội dung khác trong đơn kháng cáo bị hại Huỳnh O rút toàn bộ yêu cầu.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, lời trình bày của bị cáo, bị hại. Tại phiên phúc thẩm hôm nay giữa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận với nhau về tiền bồi thường, bị cáo bồi thường thêm cho bị hại 30.000.000 đồng tiền ngày công lao động, các nội dung yêu cầu khác bị hại Huỳnh O rút toàn bộ yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại, các phần khác không kháng cáo không kháng nghị đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên án sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện D về phần trách nhiệm dân sự.
Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Huỳnh O: Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay giữa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận với nhau về tiền bồi thường trách nhiệm dân sự, cũng như các nội dung kháng cáo khác bị hại đã rút yêu cầu nên Vị luật sư thống nhất với quan điểm của Vị kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng sửa Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện D về phần trách nhiệm dân sự như Vị kiểm sát viên đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị hại Huỳnh O là trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Đối với yêu cầu kháng cáo của bị hại Huỳnh O, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong đơn kháng cáo bị hại yêu cầu xem xét nhiều nội dung nhưng tại phiên tòa hôm nay bị hại đã rút lại yêu cầu không còn yêu cầu tăng trách nhiệm hình sự từ treo sang giam đối với bị cáo Lê Ngọc T và không còn yêu cầu xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông Lê Phước U và bà Lê Phước C, chỉ yêu cầu bị cáo bồi tiền mất ngày công lao động cụ thể chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường 30.000.000 đồng. Việc rút yêu cầu kháng cáo của bị hại là tự nguyện, đúng quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, đình chỉ các phần kháng cáo mà bị hại đã rút tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay. Bị cáo cũng thống nhất đồng ý bồi thường thêm cho bị hại 30.000.000 đồng, đây là sự tự nguyện của bị cáo, không trái quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì vậy Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện D về phần bồi thường trách nhiệm dân sự.
Đề nghị của Kiểm sát viên xét xử phúc thẩm và đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là phù hợp với quy định pháp luật và nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Trong quá trình xét xử Tòa án cấp sơ thẩm đã tính toán sai số về án phí dân sự sơ thẩm cũng như kết quả tại phiên tòa hôm nay cần điều chỉnh án phí dân sự sơ thẩm cho phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu thỏa thuận giữa bị cáo Lê Ngọc T và bị hại Huỳnh O nên bị cáo và bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các l trên;
U T ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2023/HS-ST, ngày 15/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh về trách nhiệm dân sự.
Đình chỉ yêu cầu kháng cáo của bị hại Huỳnh O về việc yêu cầu tăng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lê Ngọc T.
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Lê Ngọc T và bị hại Huỳnh O về việc bị cáo bồi thường thêm cho bị hại 30.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015:
Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Huỳnh O các khoản thiệt hại số tiền 57.501.400 đồng được trừ vào 20.000.000 đồng, bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Trà Vinh, theo biên lai thu tiền số 0000034 ngày 22/11/2022, bị cáo Lê Ngọc T có nghĩa vụ bồi thường tiếp cho bị hại Huỳnh O số tiền 37.501.400 đồng.
Khi án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Lê Ngọc T và bị hại Huỳnh O không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, buộc bị cáo phải nộp 2.062.570 đồng (hai triệu không trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm bảy mươi đồng).
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, không sửa đổi đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh; - TAND Huyện D; - VKSND Huyện D; - Chi cục THADS huyện D; - Cơ quan CSĐT huyện D; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Minh Tự |