- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Đức N - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ Điều 345; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH P | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2023/HS-PT Ngày 24 tháng 5 năm 2023 |
N DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH P
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Hà Giang;
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Trường Sơn;
Ông Nguyễn Quang Vũ.
- Thư ký phiên tòa:Bà Trần Thu Hiền - Thư ký Tòa án Nhân dân tỉnh P.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh P tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Kim Dung- Kiểm sát viên.
Ngày 24tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án Nhân dân tỉnh P đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:32/2023/TLPT-HS ngày 20 tháng 02 năm 2023;Do có kháng cáo của anh Nguyễn Ngọc Q là người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 177/2022/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Tòa án Nhân dân thành phố V, tỉnh P.
*Bị cáobị kháng cáo:
Họ và tên: Đỗ Đức N, sinh năm 1982; Giới tính: Nam;Nơi ĐKHKTT: Tổ 17, khu Mộ Hạ, phường Bạch Hạc, TP.V, tỉnh P; Nơi ở: Tổ 18, khu Mộ Hạ, phường Bạch Hạc, TP.V, tỉnh P; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi ĐKHKTT: Tổ 17, khu Mộ Hạ, phường Bạch Hạc, thành phố V, tỉnh P; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12;Con ôngĐỗ Hồng Quỳnh và bà Trần Thị L; Vợ: Dương Thị Lập, sinh năm 1981 và có 01 con sinh năm 2016;
Tiền án, tiền sự: Không;
Ngày 29/3/2022, bị cáo bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại phường Bạch Hạc, thành phố V, tỉnh P;(Có mặt tại phiên tòa).
* Người bào chữa cho bị cáo:
Ông Nguyễn Khánh H, sinh năm 1983; là Luật sư, Văn phòng luật sư Đức Chiến, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Vĩnh Phúc; Địa chỉ: TDP Đội Cấn, thị trấn Vĩnh Tường, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.(Có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Anh Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1980;Địa chỉ: Tổ 6, khu Mộ Hạ, phường Bạch Hạc, thành phố V, tỉnh P.(Có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà: Trần Thị L, sinh năm 1957; Địa chỉ tại: Tổ 18, khu Mộ Hạ, phường Bạch Hạc, thành phố V, tỉnh P.(Vắng mặt tại phiên tòa).
2. Anh: Đỗ Hồng Q, sinh năm 1977;Địa chỉ tại: Tổ 18, khu Mộ Hạ, phường Bạch Hạc, thành phố V, tỉnh P. (Có mặt tại phiên tòa).
3. Chị: Đỗ Thị V, sinh năm 1979;Địa chỉ tại: Tổ 18, khu Mộ Hạ, phường Bạch Hạc, thành phố V, tỉnh P.(Có mặt tại phiên tòa).
* Người làm chứng:
1. Chị: Lê Thị Hồng S, sinh năm 1986;Địa chỉ tại: Tổ 18, khu Mộ Hạ, phường Bạch Hạc, thành phố V, tỉnh P.(Vắng mặt tại phiên tòa).
2. Chị: Tạ Thị Ngọc H, sinh năm 2002;Địa chỉ tại: Tổ 18, khu Mộ Hạ, phường Bạch Hạc, thành phố V, tỉnh P.(Vắng mặt tại phiên tòa).
3. Anh: Đỗ Hồng H, sinh năm 2004; Địa chỉ tại: Tổ 18, khu Mộ Hạ, phường Bạch Hạc, thành phố V, tỉnh P.(Vắng mặt tại phiên tòa).
* Người kháng cáo:Anh Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1980; Địa chỉ: Tổ 6, khu Mộ Hạ, phường Bạch Hạc, thành phố V, tỉnh P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do mâu thuẫn gia đình,khoảng 10 giờ 40 phút ngày 19/12/2021, tại khu vực trước cửa nhà bà Trần Thị L, sinh năm 1957; ở tại tổ 18, khu Mộ Hạ, phường Bạch Hạc, thành phố V, tỉnh P, Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1980, HKTT: Tổ 6, phố Bạch Hạc, phường Bạch Hạc; hiện ở tổ 18, khu Mộ Hạ, phường Bạch Hạc và bà Trần Thị L xảy ra cãi, chửi nhau (Bà L là mẹ vợ của anh Q). Thấy anh Q có lời lẽ xúc phạm mẹ đẻ mình nên Đỗ Đức N, sinh năm 1982, HKTT: Tổ 17, khu Mộ Hạ, phường Bạch Hạc, thành phố V, tỉnh P (Anh N là em vợ anh Q) cầm 01 chiếc ống tuýp bằng kim loại, tối màu, dài 75cm, hai đầu tròn, đường kính là 2cm đi từ trong nhà bà Lra trước cổng. N cầm ống tuýp ở tay phải lao tới vị trí anh Q, vung lên đánh một cái theo chiều từ trên xuống dưới, anh Q dơ tay trái lên đỡ nên tuýp sắt đã vụt trúng vào phần mặt ngoài cổ tay trái của anh Q. N tiếp tục dùng tuýp sắt vụt cái thứ haitrúng vào vùng lưng anh Q. Sau đó, anh Q bỏ chạy và nhặt 01 mảnh gạch, loại gạch nung, màu đỏ, không lỗ, đã bị vỡ tại vỉa hè phía trước cửa nhà Q rồi ném về phía N nhưng không trúng. Sau đó, anh Q chạy vào trong nhàanh Nguyễn Phi Trường, sinh năm 2001, trú tại tổ 18, khu Mộ Hạ, phường Bạch Hạc, thành phố V (Anh Trường là con trai anh Nguyễn Ngọc Q), lấy01 chiếc Búa bằng kim loại, dài 38cm, đầu Búa rộng 9cm, phần tay cầm của búa được phủ một lớp sơn màu xanh và 01 mảnh gạch, loại gạch chín, màu đỏ, không lỗ, đã bị vỡ ra khu vực sân. Anh Q cầm chiếc búa cầm ở tay phải, ném từ trong sânra vị trí của N (lúc này N đang đứng ngoài đường dân sinh trước cửa nhà anh Q) nhưng không trúng. Thấy vậy, anh Đỗ Hồng H, sinh năm 2004 (là cháu của anh Q) và chị Tạ Thị Ngọc H, sinh năm 2002(là con dâu của Q), đều trú tại tổ 18, khu Mộ Hạ, phường Bạch Hạc chạy lại đóng cổng để can ngăn hai bên (cổng nhà anh Nguyễn Phi Trường được làm bằng các thanh kim loại). Anh Nguyễn Ngọc Q tiếp tục chạy vào trong nhà, lấy ra 01 con dao, dạng dao phay, dài 37cm, lưỡi dao bằng kim loại, chuôi dao bằng gỗ, nhưng do cổng đã đóng nên anh Q đứng trong khu vực sân nhà, phía bên trong cổng. Lúc này,anh Đỗ Hồng Q, sinh năm 1977, hiện ở tổ 18, khu Mộ Hạ, phường Bạch Hạc, thành phố V, tỉnh P (Anh Đỗ Hồng Q là anh trai ruột của Đỗ Đức N) cũng chạy từ trong nhà bà L ra ngoài đường dân sinh đến gần vị trí của anh N đứng.Do thấyanh Ngọc Q đang cầm dao nên anh Hồng Q đã nhặt một cành cây ven đường dài 1,9m, tối màu, trênhân thân cành có 03 nhánh cây đã bị gãyđến đứng bên ngoài, phía bên phải cổng nhà anh Ngọc Q. Khi thấy Ngọc Q dơ dao lên định ném, anh Hồng Q cầm cành cây bằng hai tay vụt 01 cái vào phần tay nắm bên ngoài cánh cổng nhà anh Ngọc Q để dọa.Đỗ Đức N đứng bên trái cổng, dùng hai tay đẩy mạnhcánh cổng phía bên trái nênanh Ngọc Q đứng bên trong lùi lại phía sau, cách cổng khoảng 1,15m và cầm dao bằng tay phải ném về phía N và anh Hồng Q. Thấy vậy, anh Hồng Q cầm cành cây tiếp tục đập về phía cổng để chặn con dao, nhưng do vụt trượt nên con dao bay ra bên phía ngoài đường dân sinh còn cành cây đập trúng tay cầm đóng mở phía bên ngoài của cánh cổng. Sau khi ném con dao, anh Ngọc Q chạy vào trong nhà. Cho rằng sự việc đã dừng lại nên anh Hồng Q đi về nhà bà L còn N tiếp tục đứng ở đường bê tông trước cổng nhà anh Ngọc Q. Một lúc sau, Ngọc Q chạy từ trong nhà ra đứng tại khu vực sânthì N cầm ống tuýp bằng tay phải ném từ ngoài đường dân sinh, qua khe cửa trúng vào cẳng chân phải của anh Q làm anh Q ngã xuống đất. Tiếp đó, N nhặt nửa viên gạch, loại gạch chín, màu đỏ ở ven đường, ném vào cánh cổng nhà anh Ngọc Q rồi bỏ về nhà. Sau khi sự việc xảy ra, anh Nguyễn Ngọc Q được đưa đi bệnh viện điều trị thương tích. Anh Ngọc Q đã làm đơn trình báo sự việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố V đề nghị giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố V xác định sau khi vụ việc xảy ra, anh Nguyễn Ngọc Q có 02 vết thương tại phần cẳng chân bên phải và cổ tay bên trái, ngoài ra không có thương tích nào khác.
Ngày 28/2/2022, Cơ quan CSĐT đã trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Nguyễn Ngọc Q.
Tại kết luận giám định pháp y về thương tích 37/TgT/2022 ngày 14/3/2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh P, kết luận:
“- Tỷ lệ phần trăm thương tích cổ tay bên trái là: 09%
- Tỷ lệ phần trăm thương tích gãy xương cẳng chân bên phải là: 14%
- Tỷ lệ phần trăm thương tích các vết mổ cẳng chân bên phải: 04%
Áp dụng phương pháp cộng tại thông tư: 24,87%
Làm tròn 25%
Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Ngọc Q là: 25% (Hai mươi lăm phần trăm)
Cơ chế hình thành thương tích:
+ Vết sẹo số một cẳng chân phải, gãy 1/3 giữa xương chày phải: Do tác động của vật cứng có cạnh gây nên.
+ Gãy xương đậu cổ tay trái: Do tác động của vật cứng có cạnh gây nên.
+ Vết sẹo số hai, số ba, số bốn, số năm cẳng chân phải: Do bác sỹ phẫu thuật để điều trị”
Quá trình điều tra, Đỗ Đức N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của bị can phù hợp với lời khai của những người làm chứng và hình ảnh dữ liệu camera Cơ quan điều tra đã thu giữ ghi lại toàn bộ diễn biến vụ án.
Đối với anh Đỗ Hồng Q: Khi thấy anh Ngọc Q và N xảy ra xô xát, anh Nguyễn Ngọc Q đứng trong cổng, tay cầm dao, giơ lên định ném ra ngoài đường (nơi có anh N và mọi người đang đứng) nên anh Hồng Q dùng 01 cành cây vụt vào phần tay nắm của cánh cổng nhà anh Trường mục đích để dọa không cho anh Ngọc Q ném con dao ra bên ngoài. Thời điểm N dùng ống tuýp bằng kim loại vụt gây thương tích vào tay của anh Ngọc Q, anh Hồng Q đang ở trong nhà bà L nên không biết, không tham gia. Đồng thời, sau khi anh Hồng Q tưởng sự việc đã kết thúc và về nhà bà L thì N mới ném ống tuýp kim loại vào chân phải anh Ngọc Q. Sự việc này, anh Hồng Q cũng không biết và không có sự bàn bạc trước với N, do đó, xác định anh Đỗ Hồng Q không gây thương tích cho anh Ngọc Q và không đồng phạm đối với thương tích mà N gây ra cho anh Ngọc Q.
Về trách nhiệm dân sự:Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định, ngôi nhà anh Nguyễn Ngọc Q đang sinh sống là của anh Nguyễn Phi Trường, sinh năm 2001, trú tại tổ 18, khu Mộ Hạ, phường Bạch Hạc, thành phố V (con trai anh Nguyễn Ngọc Q). Đối với những vết xước trên cánh cổng do anh Nguyễn Ngọc Q, anh Đỗ Hồng Q và Đỗ Đức N gây ra trong ngày 19/12/2021, anh Trường không yêu cầu đề nghị gì.
Trong vụ án này, anh Nguyễn Ngọc Q yêu cầu Đỗ Đức N phải bồi thường số tiền 200.000.000đ(Hai trăm triệu đồng) là chi phí điều trị thương tích, thu nhập bị mất và tổn thất tinh thần do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo N phải bòi thường tổng số tiền là 697.000.000 đồng, bị cáo không đồng ý với khoản bồi thường trên và đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 177/2022/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Tòa án Nhân dân thành phố V, tỉnh P đã Quyết định:
Căn cứ vào: điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2Điều 106, khoản 2Điều136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Đức N phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Đức N 30 (Ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo N cho UBND phường Bạch Hạc, thành phố V, tỉnh P giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường Bạch Hạc, thành phố V, tỉnh P trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đỗ Đức N có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Ngọc Q, tổng số tiền là 183.000.000 đồng. Xác nhận bị cáo Đỗ Đức N đã bồi thường cho bị hại là anh Nguyễn Ngọc Q số tiền là 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng), trong đó 20.000.000 đồng, bị cáo N đưa cho chị V (vợ anh Q) đưa anh Q đi cấp cứu và 50.000.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành ánhân dân sự thành phố V, tỉnh P (Theo biên lai thu tiền số: AA/2020/0007260 ngày 30/8/2022 là 40.000.000 đồng và Biên lai thu tiền số: AA/2020/0007397 ngày 28/12/2022 là 10.000.000 đồng). Buộc bị cáo N còn phải bồi thường tiếp cho anh Nguyễn Ngọc Q số tiền là: 113.000.000 đồng (Một trăm mười ba triệu đồng).
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao phay, dài 37cm, lưỡi dao bằng kim loại đã rỉ sét, chuôi dao bằng gỗ; 01 chiếc búa bằng kim loại dài 38cm, đầu búa bằng kim loại kích thước 9cm x 2,5cm x 3cm, tay cầm của búa phủmột lớp màu xanh đã bong chóc; 01 mảnh gạch chín, không lỗ, đã bị vỡ, kích thước 10cm x 10,5cm x 6cm; 01 mảnh gạch chín, không lỗ, đã bị vỡ, kích thước 9,5cm x 10,5cm x 6cm; 01ống tuýp bằng kim loại dài 75cm, tối màu, đường kính của ống tuýp là 2cm và 01 cành cây khô dài 1,90m, trênhân thân cành có 03 nhánh bị gãy, đường kính to nhất là 5cm, đường kính nhỏ nhất là 1,2cm.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/8/2022 tại Chi cục thi hành ánhân dân sự thành phố V).
Về án phí: Buộc bị cáo Đỗ Đức N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), tiền án phí hình sự sơ thẩm và 5.650.000 đồng (Năm triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng), tiền án phí dân sự trong vụ án hình sự.
Bản án còn tuyên vềquyền kháng cáo và các vấn đề khác đúng quy định của pháp luật.
Ngày 29/12/2022, bị hại anh Nguyễn Hồng Q có đơn kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm số 177/2022/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Tòa án Nhân dân thành phố V, tỉnh P.Ngày 03/01/2023 và 10/01/2023 bị hại anh Nguyễn Hồng Q có đơn kháng cáo bổ sung kháng cáo toàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Người bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh P trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụngĐiều 345; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356của Bộ luật Tố tụng hình sự.Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại anh Nguyễn Ngọc Q. Giữ nguyên quyết định Bản án hình sự sơ thẩm số 177/2022/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Tòa án Nhân dân thành phố V, tỉnh P.
* Luật sư bào chữa cho bị cáo Đỗ Đức N: Nhất trí như quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của người bị hại anh Nguyễn Ngọc Q nộp trong hạn luật định nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung vụ án:
Do có mâu thuẫn với bà Trần Thị L là mẹ đẻ của bị cáo Đỗ Đức N và cũng là mẹ vợ của bị hại, anh Nguyễn Ngọc Q đã có lời lẽ xúc phạm, chửi bới bà L từ sáng sớm đến khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày 19/12/2022 khi về đến nhà bị cáo N đã bức xúc việc bị hại chửi bới bà L bị cáo N đã dùng 01 ống tuýp bằng kim loại vụt về phía anh Q, anh Q dơ tay trái lên đỡ nên tuýp sắt đã vụt trúng vào phần mặt ngoài cổ tay trái của anh Q gây thương tích là 9%. Sau đó bị cáo N còn dùng tay phải ném ống tuýp kim loại qua khe cửa cổng trúng vào cẳng chân bên phải của anh Q gây thương tích là 14% và tỷ lệ phần trăm thương tích các vết mổ cẳng chân bên phải là 04%. Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 37/2022/TgT ngày 14/3/2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh P kết luận áp dụng phương pháp cộng tại thông tư 24,87% tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Ngọc Q làm tròn là 25%.
Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Không oan sai.
Xét kháng cáo của người bị hại anh Nguyễn Ngọc Q kháng cáotoàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 177/2022/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Tòa án Nhân dân thành phố V, tỉnh P.
- Về trách nhiệm hình sự:
Tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa người bị hại anh Nguyễn Ngọc Q vẫn giữ nguyên quan điểm không đồng ý với mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo Đỗ Đức N là 30 tháng tù cho hưởng án treo vì các lý do bị hại không chỉ bị một mình bị cáo N đánh mà là do cả ba mẹ con bị cáo gồm bị cáo N, bà Trần Thị L và anh Đỗ Hồng Q trong đó bị cáo N ném tuýp sắt vào chân làm anh bị thương tích với tỷ lệ là 16%; anh Đỗ Hồng Q đánh gãy xương cổ tay trái của anh với thương tích là 09% còn bà L đã khóa cổng nhốt anh lại để bị cáo N ném tuýp sắt vào chân anh, khống chế không cho người đưa anh đi bệnh viện.
Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và sau khi HĐXX sơ thẩm đã tiến hành xem xét tại chỗ nơi xảy ra tội phạm, đồng thời kết hợp với hình ảnh được lưu trữ trong Camera khi xảy ra tội phạm, cũng như lời khai của bị cáo, người bị hại, người liên quan, người làm chứng có đủ cơ sở khẳng định bị cáo N đã dùng 01 ống Tuýp bằng kim loại vụt về phía người bị hại anh Nguyễn Ngọc Q, anhNguyễn Ngọc Q dơ tay trái lên đỡ nên tuýp sắt đã vụt trúng vào phần mặt ngoài cổ tay trái của anh Nguyễn Ngọc Q là 9%. Sau đó bị cáo N còn dùng tay phải ném ống Tuýp kim loại qua khe cửa cổng trúng vào cẳng chân bên phải của anh Nguyễn Ngọc Q gây thương tích gây thương tích là 14%. Còn anh Đỗ Hồng Q cũng bức xúc về việc người bị hại anh Nguyễn Ngọc Q chửi bới mẹ mình nên đã dùng cành cây vụt về phía anh Nguyễn Ngọc Q (Lúc này anh Nguyễn Ngọc Q đứng bên trong cửa sắt) nhưng không trúng vào anhNguyễn Ngọc Q mà trúng vào cửa sắt. Thương tích của bị hại phù hợp với kết luận giám định số 37/2022/TgT ngày 14/3/2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh P kết luận cơ chế hình thành thương tích “gãy xương đậu cổ tay trái do tác động của vật chứng gây nên”. Do đó có thể xác định anh Đỗ Hồng Q không gây thương tích cho anh Nguyễn Ngọc Q mà thương tích của anh Nguyễn Ngọc Q là do bị cáo Đỗ Đức N gây ra. Đồng thời cũng không có chứng cứ nào chứng minh bà L đã khóa cổng nhốt anh Nguyễn Ngọc Q lại để bị cáo N ném tuýp sắt vào chân anh, khống chế không cho người đưa anh đi bệnh viện.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét Nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên phạt bị cáo Đỗ Đức N30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm về tội “Cố ý gây thương tích” là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại không cung cấp thêm được tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo về việc không đồng ý với mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo Đỗ Đức N là 30 tháng tù cho hưởng án treo. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo đã bồi thường tiếp cho người bị hại số tiền 113.000.000đ theo bản án sơ thẩm đã tuyên. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo này của người bị hại.
- Về trách nhiệm dân sự:
Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ quy định tại Điều 590 của Bộ luật Dân sự về xác định thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm để buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền 183.000.000đ, gồm:
+ Tiền chi phí cho phẫu thuật, tiền thuốc, khám bệnh theo hóa đơn bị hại cung cấp, tổng cộng là 47.500.000đ.
+ Chi phí bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe bị tổn thất là 48.000.000đ
+ Chi phí đi lại trong quá trình điều trị là: 5.000.000đ.
+ Tiền mất thu nhập trong 12 tháng là thời gian từ khi bị thương tích cho đến nay là: 12 tháng x 3.000.000đ là 36.000.000đ.
+ Tiền công người chăm sóc (từ ngày 19/12/2021 đến 27/12/2021) 09 ngày x 200.000đ/1 ngày là: 1.800.000đ.
+ Bồi thường tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm 30 tháng (1.490.000đ/1 tháng) là: 44.700.000đ.
Là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại đơn kháng cáo bổ sung ngày 03/01/2023 và tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại đề nghị xem xét khoản bồi thường mất thu nhập vì người bị hại cho rằng đi lái tàu có thu nhập hàng tháng 12.000.000đ và không phải chi phí tiền ăn cũng như tiền nhà, hiện nay người bị hại không đi làm được nên phải chịu thêm chi phí tiền ăn và tiền nhà nên đề nghị bị cáo phải bồi thường thêm. Đồng thời, người bị hại cũng đề nghị xem xét các khoản chi phí chữa trị phần xương chân không can lại được và đang bị teo phải phẫu thuật.
Tuy nhiên, tại phiên tòa người bị hại không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào khác thể hiện thu nhập thực tế hàng tháng của bị hại. Mặt khác, căn cứ các quy định của pháp luật thì không có quy định nào buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại chi phí tiền ăn cũng như tiền thuê nhà cho bị hại. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu đề nghị tăng mức bồi thường mất thu nhập của bị hại.
Đối với đề nghị xem xét các khoản chi phí chữa trị phần xương chân không can lại được và đang bị teo phải phẫu thuật. Người bị hại có cung cấp 01 phim chụp phần xương chân của người bị hại ngoài ra không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ nào khác thể hiện việc người bị hại bắt buộc phải thực hiện việc phẫu thuật cũng như chi phí cụ thể của việc phẫu thuật nên không có căn cứ để buộc bị cáo phải bồi thường đối với những chi phí chưa phát sinh này.
Do vậy, trường hợp phát sinh chi phí điều trị mới đối với những thương tích do bị cáo Đỗ Đức N đã gây ra, người bị hại anh Nguyễn Ngọc Q có quyền làm đơn ra Tòa án khởi kiện vụ ánhân dân sự theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đỗ Đức N xuất trình giấy xác nhận kết quả thi hành án số 64/GXN-CCTHADS ngày 23/5/2023 của Chi cục Thi hành ánhân dân sự thành phố V kèm theo 03 biên lai thu tiền thi hành án và 01 biên bản giao nhận tổng số tiền 113.000.000đ và người bị hại anh Nguyễn Ngọc Q cũng thừa nhận bị cáo N đã bồi thường cho anh Q đủ số tiền trong Bản án sơ thẩm đã tuyên. Vì vậy, cần xác nhận trong bản án phúc thẩm là phù hợp.
Từ những phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy rằng không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của người bị hại. Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 177/2022/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Tòa án Nhân dân thành phố V, tỉnh P về phần hình phạt đối với bị cáo Đỗ Đức N. Sửa phần trách nhiệm dân sự của Bản án.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh P là phù hợp nên chấp nhận.
Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ được chấp nhận.
Về án phí: Kháng cáo của người bị hại không được chấp nhận nhưng không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ Điều 345; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại anh Nguyễn Ngọc Q. Giữ nguyên quyết định Bản án hình sự sơ thẩm số 177/2022/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Tòa án Nhân dân thành phố V, tỉnh P về hình phạt đối với bị cáo Đỗ Đức N. Sửa phần trách nhiệm dân sự củaBản án.
[2]Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;khoản 1, 2, 5 Điều 65;điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2Điều 106; khoản 2Điều136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự; điểm d khoản 1 Điều 12; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngµy 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Đức N phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Đức N 30 (Ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo N cho UBND phường Bạch Hạc, thành phố V, tỉnh P giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường Bạch Hạc, thành phố V, tỉnh P trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Đỗ Đức N có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Ngọc Q, tổng số tiền là 183.000.000 đồng(Một trăm tám mươi ba triệu đồng). Xác nhận bị cáo Đỗ Đức N đã bồi thường cho người bị hại là anh Nguyễn Ngọc Q đủ số tiền 183.000.000 đồng (Một trăm tám mươi ba triệu đồng), trong đó:
+ 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) đưa cho chị Đỗ Thị V (vợ anh Q) đưa anh Q đi cấp cứu.
+ 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) nộp tại Chi cục Thi hành ánhân dân sự thành phố V, tỉnh P theo biên lai thu tiền số: AA/2020/0007260 ngày 30/8/2022.
+ 10.000.000 đồng(Mười triệu đồng) nộp tại Chi cục Thi hành ánhân dân sự thành phố V, tỉnh P theo biên lai thu tiền số: AA/2020/0007397 ngày 28/12/2022.
+ 50.000.000 đồng(Năm mươi triệu đông) đưa cho chị Đỗ Thị V (vợ anh Q) để trả cho anh Q theo Biên bản giao nhận ngày 04/4/2023.
+ 44.000.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu đồng) nộp tại Chi cục Thi hành ánhân dân sự thành phố V, tỉnh P theo biên lai thu tiền số: AA/2020/0005096 ngày 23/5/2023.
+ 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) nộp tại Chi cục Thi hành ánhân dân sự thành phố V, tỉnh P theo biên lai thu tiền số: AA/2020/0005092 ngày 17/3/2023.
+ 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) nộp tại Chi cục Thi hành ánhân dân sự thành phố V, tỉnh P theo biên lai thu tiền số: AA/2020/0005097 ngày 23/5/2023 do chị Đoàn Thị Hà nộp thay.
- Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao phay, dài 37cm, lưỡi dao bằng kim loại đã rỉ sét, chuôi dao bằng gỗ; 01 chiếc búa bằng kim loại dài 38cm, đầu búa bằng kim loại kích thước 9cm x 2,5cm x 3cm, tay cầm của búa phủmột lớp màu xanh đã bong chóc; 01 mảnh gạch chín, không lỗ, đã bị vỡ, kích thước 10cm x 10,5cm x 6cm; 01 mảnh gạch chín, không lỗ, đã bị vỡ, kích thước 9,5cm x 10,5cm x 6cm; 01ống tuýp bằng kim loại dài 75cm, tối màu, đường kính của ống tuýp là 2cm và 01 cành cây khô dài 1,90m, trên thân cành có 03 nhánh bị gãy, đường kính to nhất là 5cm, đường kính nhỏ nhất là 1,2cm.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/8/2022 tại Chi cục thi hành ánhânhân dân sự thành phố V).
[3]Về án phí:
Buộc bị cáo Đỗ Đức N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), tiền án phí hình sự sơ thẩm và 5.650.000 đồng (Năm triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng), tiền án phí dân sự trong vụ án hình sự.
Bị hại anh Nguyễn Ngọc Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận - VKSND tỉnh P; - TAND Tp V; - VKSND Tp V; - Công an Tp V; - Chi cục THADS Tp V; - TB UBND nơi bị cáo cư trú; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS; Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Giang |