- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "m-t"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị M đối với bị đơn ông Trần Đình T về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2023/HNGĐ-ST Ngày: 13 - 3 - 2023 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tố Uyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Nhật Quang
2. Bà Trần Ngọc Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 1058/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/QĐ-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị M, sinh năm 1988; địa chỉ thường trú: thị trấn C, huyện C1, tỉnh Nghệ An, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Đình T, sinh năm 1989; địa chỉ thường trú: khu phố 3, phường A, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13/7/2022 và bản tự khai ngày 27/10/2022, nguyên đơn bà Hoàng Thị M trình bày:
Bà Hoàng Thị M và ông Trần Đình T tự nguyện sống chung và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T1, huyện T2, tỉnh N theo Giấy chứng nhận kết hôn số 18 ngày 01/01/2012.
Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nhưng từ năm 2018 thì mâu thuẫn xảy ra thường xuyên, nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng tính tình hai bên không hợp nhau, không cùng suy nghĩ, không đồng quan điểm sống. Mặc dù đã cố gắng nhiều cách nhưng mâu thuẫn vẫn dai dẳng, cuộc sống ngột ngạt, vợ chồng sống với nhau không có hạnh phúc nên bà M và ông T đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Từ khi sống ly thân đến nay, giữa bà M và ông T không qua lại với nhau, không ai quan tâm đến ai, ông T có biết việc bà M làm đơn gửi đến Tòa án yêu cầu ly hôn nhưng ông T nói bà M tự làm thủ tục, ông T đồng ý ly hôn nhưng sẽ không lên Tòa án theo yêu cầu. Hiện nay, bà M xác định không còn tình cảm với ông T, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà M ly hôn với ông Trần Đình T.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà M và ông Trần Đình T có 01 người con tên Trần Hoàng T4, sinh ngày 21/7/2012. Sau khi ly hôn, bà M yêu cầu Tòa án giải quyết giao con chung cho bà M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
Về cấp dưỡng nuôi con: bà M không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng cứ, tài liệu nguyên đơn cung cấp: Bản chứng thực Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, sổ tạm trú; Trích lục kết hôn; Bản sao Trích lục khai sinh và các tài liệu khác có liên quan đến hồ sơ vụ án.
Bị đơn ông Trần Đình T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án nhưng bị đơn vẫn không đến làm việc cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Quá trình đưa vụ án ra xét xử, nguyên đơn bà Hoàng Thị M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn với bị đơn ông Trần Đình T cũng như yêu cầu về con chung, cấp dưỡng nuôi con; bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Bị đơn không chấp hành đúng pháp luật do đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà M và ông T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Bà Hoàng Thị M và ông Trần Đình T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T1, huyện T2, tỉnh N theo Giấy chứng nhận kết hôn số 18 ngày 01/01/2012. Nay bà Hoàng Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Trần Đình T đồng thời giải quyết về vấn đề con chung. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Khoản 1, Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Trần Đình T hiện cư trú tại phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương nên theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 35 và Điểm a, Khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thụ lý đúng thẩm quyền.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn ông Trần Đình T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng và tham gia phiên tòa xét xử lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ Điểm b, Khoản 2, Điều 227; Khoản 1, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị M và ông Trần Đình T chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét thấy, trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Hoàng Thị M cho rằng từ năm 2018, bà M và ông T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không hòa hợp về suy nghĩ và quan điểm sống, mâu thuẫn kéo dài đến năm 2020 thì bà M và ông T sống ly thân, từ đó đến nay hai bên không còn quan hệ tình cảm vợ chồng, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Bên cạnh đó, từ khi bà M nộp đơn ly hôn đến Tòa án nhân dân thành phố Thuận An cho đến nay, ông T có biết việc bà M muốn ly hôn nhưng không có động thái gì nhằm hàn gắn hạnh phúc gia đình. ông T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để lấy lời khai, hòa giải, tham gia phiên tòa để nhằm mục đích đoàn tụ nhưng vẫn không đến Tòa, thể hiện ý chí ông T không có thiện chí đoàn tụ vợ chồng. Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà M và ông T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M về việc yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: bà M có yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, Hội đồng xét xử xét thấy: Thời điểm hiện tại, cháu Trần Hoàng T4, sinh ngày 21/7/2012 không sống cùng với cha mẹ mà sống với ông nội là Trần Đình Việt tại xóm Hồng Phong, xã Đại Đồng, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. cháu T4 có nguyện vọng được ở cùng với ông Trần Đình T khi bà M và ông T ly hôn. Tuy nhiên, thời gian từ khi bà M và ông T sống ly thân thì cháu T4 đã sống cùng với ông bà nội cho đến hiện tại do ông Trần Đình T đi làm tại Bình Dương. Còn bà M muốn được đưa cháu T4 về để trực tiếp nuôi dưỡng nhưng bị ông T ngăn cản nên không thể thực hiện được nguyện vọng. Nay bà M khởi kiện đến Tòa án yêu cầu giải quyết cho bà M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T4. Xét, bà M hiện có công việc và thu nhập ổn định, có hướng sau ly hôn sẽ đưa cháu T4 vào Bình Dương để đảm bảo chăm sóc cho cháu T4 trong sinh hoạt và học hành. Bên cạnh đó, ông Trần Đình T quá trình tố tụng không đến Tòa án để làm việc cũng như nêu nguyện vọng của mình về việc nuôi con. Do đó, để đảm bảo cho cháu T4 có cơ sở phát triển ổn định về mặt thể chất và tinh thần, cần phải giao cháu T4 cho bà Hoàng Thị M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: bà M không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là ý chí tự nguyện của bà M, phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1, Điều 28; Điểm a, Khoản 1, Điều 35; Điểm a, Khoản 1, Điều 39; Khoản 3, Điều 144; Điểm b, Khoản 2, Điều 227; Khoản 1, Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 9, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị M đối với bị đơn ông Trần Đình T về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị M được ly hôn với ông Trần Đình T.
- Về con chung: Bà Hoàng Thị M được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Trần Hoàng T4, sinh ngày 21/7/2012.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Hoàng Thị M về việc không yêu cầu ông Trần Đình T cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nuôi con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Bà Hoàng Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai số 0000557 ngày 07/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo đúng quy định pháp luật./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tp. Thuận An; - Chi cục THADS TP. Thuận An; - Phòng Tư pháp tp. Thuận An; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tố Uyên |