vanban.org

Bản án 28/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Vũ Thị T. Cho bà Vũ Thị T ly hôn với ông Trần Minh P.

Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Trần Vũ D sinh ngày 24 tháng 4 năm 2014 cho bà Vũ Thị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Trần Minh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị T- Trần Minh P"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Vũ Thị T. Cho bà Vũ Thị T ly hôn với ông Trần Minh P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ GR
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2023/HNGĐ-ST
Ngày 18 - 4 - 2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GR, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Nhi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Nhạn

2. Bà Cao Thị Mỹ Phượng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Hải - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Đẹp - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXX-ST ngày 08 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2023/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị T, sinh năm 1992. Địa chỉ: Khóm A, Phường B, thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Trần Minh P, sinh năm 1990. Địa chỉ: Khóm A, Phường B, thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu (văng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 28 tháng 12 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Vũ Thị T trình bày:

- Về hôn nhân: Bà và ông Trần Minh P tự nguyện tiến đến hôn nhân với nhau và có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn GR, huyện GR (nay là Ủy ban nhân dân Phường B, thị xã GR), tỉnh Bạc Liêu vào năm 2014. Trong cuộc sống chung, vợ chồng thường bất đồng quan điểm nên xảy ra nhiều mâu thuẫn do ông P không lo làm ăn, bà đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông P vẫn không thay đổi, bà đã dọn ra sống riêng từ tháng 11 năm 2022 đến nay. Nay tình cảm không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông P.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống bà và ông P có 01 con chung tên Trần Vũ D sinh ngày 24 tháng 4 năm 2014, hiện đang sống cùng bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà và ông P không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình làm việc bị đơn ông Trần Minh P trình bày:

- Về hôn nhân: Ông và bà Vũ Thị T tự nguyện tiến đến hôn nhân với nhau và có đăng kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân thị trấn GR, huyện GR (nay là Ủy ban nhân dân Phường B, thị xã GR), tỉnh Bạc Liêu vào năm 2014. Trong cuộc sống chung, vợ chồng không có mâu thuẫn gì, ông rất thương vợ con nên ông không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T. Tuy nhiên, ông không có phương pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống ông và bà T có 01 con chung tên Trần Vũ D sinh ngày 24 tháng 4 năm 2014. Trong trường hợp nếu phải ly hôn thì ông đồng ý giao con cho bà T nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Ông và bà T không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Vũ Thị T. Tiếp tục giao con chung tên Trần Vũ D sinh ngày 24 tháng 4 năm 2014 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, bà T không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Vũ Thị T khởi kiện bị đơn ông Trần Minh P có địa chỉ tại ấp Khóm A, Phường B, thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu.

[3] Do bà T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn ông P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt nên việc xét xử vắng mặt bà T, ông P là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Bà Vũ Thị T và ông Trần Minh P tự nguyện tiến đến hôn nhân với nhau và được Ủy ban nhân dân thị trấn GR, huyện GR (nay là Ủy ban nhân dân Phường B, thị xã GR), tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 11 tháng 02 năm 2014 nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Bà T xác định trong cuộc sống chung, vợ chồng thường bất đồng quan điểm nên xảy ra nhiều mâu thuẫn do ông P không lo làm ăn, bà đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông P vẫn không thay đổi, bà đã dọn ra sống riêng từ tháng 11 năm 2022 đến nay. Nay tình cảm không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông P.

Tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Xét thấy: Mối quan hệ hôn nhân của bà T và ông P không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình nghĩa vợ chồng không còn. Trong quá trình làm việc ông P không đồng ý ly hôn nhưng ông P lại không có phương pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặt khác, mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng ông P không đến Tòa án. Việc ông P không đến Tòa án đã thể hiện ý chí không muốn hàn gắn tình cảm với bà T, đồng thời tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt của bà T thể hiện là bà T vẫn kiên quyết ly hôn với ông P. Do đó, không có điều kiện để bà T và ông P hàn gắn tình cảm, khả năng đoàn tụ là không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Vũ Thị T đối với ông Trần Minh P.

Về con chung: Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Trong quá trình chung sống bà T và ông P có 01 con chung tên Trần Vũ D sinh ngày 24 tháng 4 năm 2014. Cháu D có nguyện vọng được sống với bà T thể hiện tại Tờ nguyện vọng nộp ngày 09 tháng 02 năm 2023. Quá trình làm việc phía ông P xác định trong trường hợp nếu phải ly hôn thì ông P đồng ý giao con cho bà T nuôi dưỡng. Do đó, việc giao cháu D cho bà T được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định pháp luật. Bà T không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Ông P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông P thống nhất xác định không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Xét ý kiến của Kiểm sát viên có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Bà T đã dự nộp tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004627 ngày 11 tháng 01 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu nên được chuyển thu toàn bộ. Ông P không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 228, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Vũ Thị T. Cho bà Vũ Thị T ly hôn với ông Trần Minh P.

2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Trần Vũ D sinh ngày 24 tháng 4 năm 2014 cho bà Vũ Thị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ông Trần Minh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về cấp dưỡng: Do bà Vũ Thị T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Vũ Thị T và ông Trần Minh P thống nhất xác định là ông bà không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

5. Về án phí: Bà Vũ Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Bà Vũ Thị T đã dự nộp tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004627 ngày 11 tháng 01 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã GR, tỉnh Bạc Liêu nên được chuyển thu toàn bộ. Ông Trần Minh P không phải chịu án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ