- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn vì mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị M và anh Vũ Văn T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2023/HNGĐ-ST Ngày 30 - 8 - 2023. V/v “Tranh chấp kiện ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên.
Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quang Man và bà Nguyễn Thị Huê.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Lập - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2023, về tranh chấp “Kiện xin ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Phạm Thị M, sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT: Tổ 8, phường LHP, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; địa chỉ: Tổ dân phố LL, phường CS, thành phố PL, tỉnh Hà Nam.
* Bị đơn: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ 8, phường LHP, thành phố PL, tỉnh Hà Nam.
(Phiên tòa chị M vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Phạm Thị M trình bày:
Chị và anh Vũ Văn T lấy nhau có đăng ký kết hôn ngày 20/02/2008 tại UBND phường CS, thành phố PL, tỉnh Hà Nam. Trước khi kết hôn vợ chồng có thời gian tự nguyện tìm hiểu khoảng hơn 01 năm, khi cưới gia đình hai bên tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với gia đình chồng một thời gian, sau đó ra ở riêng, vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 01/2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do cách sống, quan điểm sống của hai bên không hợp nhau, nhiều lần mâu thuẫn căng thẳng anh T hay chửi bới đánh đập chị. Mâu thuẫn trầm trọng kéo dài không thể hàn gắn được nên vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 10/2022 đến nay. Thời gian ly thân vợ chồng tôi không quan tâm chăm sóc đến nhau và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin được ly hôn với anh Vũ Văn T.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 30/6/2023, bị đơn anh Vũ Văn T có quan điểm: Về thời gian, địa điểm, điều kiện kết hôn như chị M khai là đúng. Sau kết hôn, vợ chồng anh sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do cách sống, quan điểm sống của hai bên không hợp nhau, vợ chồng hay xảy ra cãi nhau, có lần mâu thuẫn căng thẳng anh có tát chị M. Mâu thuẫn trầm trọng kéo dài không thể hàn gắn được nên vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 7/2022 đến nay. Thời gian ly thân vợ chồng không quan tâm chăm sóc đến nhau và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm. Nay anh xác định tình cảm không còn nên nhất trí ly hôn với chị M.
* Về con chung: Chị M và anh T thống nhất xác định: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Vũ Xuân B (con trai), sinh ngày 08/02/2008 và cháu Vũ Thị Bích N (con gái), sinh ngày 15/12/2009. Hiện nay cả hai cháu đang ở với anh T. Khi ly hôn, chị M và anh T thống nhất giao cho anh T nuôi dưỡng chăm sóc cả hai con chung, chị M không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T.
Về con nuôi, con riêng: Vợ chồng thống nhất không có, không đề nghị Tòa án giải quyết. Hiện chị M không có thai nghén gì.
* Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng thống nhất không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Tại các bản tự khai ngày 30/6/2023, các con chung của chị M và anh T là cháu Vũ Xuân B và cháu Vũ Thị Bích N đều có nguyện vọng: Nếu bố mẹ ly hôn thì các cháu xin được ở với bố.
* Quan điểm của UBND phường LHP, thành phố PL, tỉnh Hà Nam: Nay chị M khởi kiện xin ly hôn anh T tại Tòa án, đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn và nuôi con chung của anh chị theo quy định của pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng; ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán đã thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền; xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng; xác minh thu thập chứng cứ đúng quy định; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đúng quy định; ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 28; 35; 39; 68; 147; 227; 228; 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51; 55; 58; 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị M.
+ Về hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị M và anh Vũ Văn T.
+ Về con chung: Giao anh T trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cả hai con chung của vợ chồng là cháu Vũ Xuân B (con trai), sinh ngày 08/02/2008 và cháu Vũ Thị Bích N (con gái), sinh ngày 15/12/2009. Chị M không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T.
+ Về án phí ly hôn sơ thẩm: Các đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền: Bị đơn anh Vũ Văn T hiện đang cư trú tại tổ 8, phường LHP, thành phố PL, tỉnh Hà Nam. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án “Tranh chấp kiện ly hôn, nuôi con chung” giữa chị Phạm Thị M và anh Vũ Văn T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn vắng mặt và có văn bản xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên ngày 14 tháng 8 năm 2023 Tòa án đã mở phiên tòa và ra quyết định hoãn phiên tòa vì lý do vắng mặt bị đơn. Vì vậy việc xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với quy định tại Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Phạm Thị M và anh Vũ Văn T trên cơ sở các bên tự nguyện, tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn vào ngày 20/02/2008 tại UBND phường CS, thành phố PL, tỉnh Hà Nam nên hoàn toàn hợp pháp và được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tôn trọng, bảo vệ.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị M, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Sau kết hôn, vợ chồng anh chị đã có một thời gian chung sống hạnh phúc và có hai con chung, sau đó thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do cách sống, quan điểm sống của hai bên không hợp nhau, nhiều lần mâu thuẫn căng thẳng anh T có đánh chửi chị M. Mâu thuẫn trầm trọng kéo dài không thể hàn gắn được nên vợ chồng anh chị đã sống ly thân nhau từ năm 2022 đến nay. Thời gian ly thân vợ chồng không quan tâm chăm sóc đến nhau và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm. Thực tế cho thấy chị M xin ly hôn thì anh T cũng đồng ý ly hôn càng chứng tỏ anh chị không còn tình cảm và không muốn đoàn tụ với nhau nữa. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, việc thuận tình ly hôn giữa chị M và anh T là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với thực tế và pháp luật được quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn như nguyện vọng của chị M và anh T.
Về con chung: Chị M và anh T thống nhất, xác định: vợ chồng có 02 con chung là cháu Vũ Xuân B (con trai), sinh ngày 08/02/2008 và cháu Vũ Thị Bích N (con gái), sinh ngày 15/12/2009. Khi ly hôn, chị M và anh T đều thống nhất giao anh T tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc cả hai con chung của vợ chồng, chị M không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy sự thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của chị M và anh T là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với thực tế và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Con nuôi, con riêng, tài sản chung và công nợ chung: Chị M và anh T đều thống nhất không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị M và anh T phải nộp theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự thực hiện theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 68; 144; 147; 227; 228; 238; 271; 273; 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51; 55; 58; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị M và anh Vũ Văn T.
2. Về con chung: Giao cho anh Vũ Văn T được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con chung của vợ chồng là cháu Vũ Xuân B (con trai), sinh ngày 08/02/2008 và cháu Vũ Thị Bích N (con gái), sinh ngày 15/12/2009, cho đến khi cháu B và cháu N trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Chị M không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phạm Thị M và anh Vũ Văn T mỗi người phải nộp 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
Chị M được đối trừ với 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2021/0001669 ngày 21/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Chị M được nhận lại 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng)
4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị M và anh T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND thành phố Phủ Lý; - CQ THADS thành phố Phủ Lý; - Các đương sự; - UBND phường Châu Sơn, TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Xuyên |