- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LINH - KHA"
- Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 28/2023/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 7 -2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Phú Phước
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Thanh Đức
Bà Phan Thị Bích
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga - Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh Đan - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2023/TLST-HNGĐ, ngày 30/3/2023, về: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23/5/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 23 /2023/QĐST-HNGĐ, ngày 23/6/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trương Thảo L, sinh năm 2000(Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã T, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận
Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng K, sinh năm 1997(Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã T, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trương Thảo Linh trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Hoàng K đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Hải, thị xã La Gi năm 2019. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông K không lo làm ăn, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay cải nhau, mâu thuẫn vợ chồng dần dần trở nên trầm trọng, hiện nay ông bà đã ly thân mạnh ai nấy sống, không quan tâm lẫn nhau. Nay bà không còn tình cảm với ông K nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông K.
Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung là Nguyễn Hoàng S, sinh ngày 25/4/2019 và Nguyễn Hoàng Bảo K, sinh ngày 01/6/2020. Cháu K đang ở với bà L và cháu Sang đang ở với ông K. Bà Linh có nguyện vọng trực tiếp nuôi con Bảo K và giao con Hoàng Scho ông K trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Hoàng K trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bà Linh về thời điểm kết hôn, con chung và mẫu thuẫn vợ chồng. Ông cũng đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Linh.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự; Thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng là phù hợp quy định pháp luật; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng phiên tòa sơ thẩm; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự đã thực hiện theo quy định.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Bà Trương Thảo L được ly hôn ông Nguyễn Hoàng K. Về con chung: Bà Linh trực tiếp nuôi con Nguyễn Hoàng Bảo Kg, ông K trực tiếp nuôi con Nguyễn Hoàng S và không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không giải quyết. Về án phí: Bà Linh phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Sau khi nghe quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Bà Trương Thảo khởi kiện ông Nguyễn Hoàng Kha về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Bị đơn ông K có nơi cư trú tại T, xã Tân Hải, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
- Nguyên đơn bà Linh có đơn xin vắng mặt và bị đơn ông K đã được Toà án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung là phù hợp quy định của Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Kha và có nguyện vọng trực tiếp nuôi con Bảo K, giao con Hoàng S cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông K không có mặt để giải quyết vụ án này, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần. Việc vắng mặt này của ông K được coi là từ bỏ quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp của mình. Hội đồng xét xử xem xét các chứng cứ nguyên đơn cung cấp, tài liệu thu thập được để giải quyết vụ án.
Xét, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy, giữa bà L và ông K tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn vào năm 2019 tại xã Tân Hải, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Quá trình chung sống giai đoạn đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng về sau thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường hay cãi vả lẫn nhau, hiện nay mạnh ai nấy sống không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên việc vợ chồng hàn gắn là rất khó. Ngoài ra, ông K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không chấp hành, bản thân ông Kha có ý kiến là đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L, điều này chứng tỏ ông K không có thiện chí giữ gìn quan hệ hôn nhân, cũng như giữa ông, bà không có giải pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ những căn cứ trên, nhận thấy mâu thuẫn giữa ông K và bà L đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không còn tồn tại, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà L ly hôn ông K là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng Bảo K cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Hoàng S cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án .
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Trương Thảo L được ly hôn ông Nguyễn Hoàng K.
[2] Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng Bảo K, sinh ngày 01/6/2020 cho bà Linh trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Hoàng S, sinh ngày 25/4/2019 cho ông Kha trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Bà Trương Thảo L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0013174 ngày 28/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi. Bà L đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND thị xã La Gi; - THADS thị xã La Gi; - Đương sự; - Lưu HS - Lưu Tòa án; - UBND nơi Đăng ký kết hôn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đỗ Phú Phước Nơi nhận: * Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND thị xã La Gi; - THADS thị xã La Gi; - Đương sự; - UBND xã Tân Hải |