- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Trịnh Bé T và anh Võ văn L"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Trịnh Bé T được ly hôn với anh Võ Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 28/2023/HNGĐ-ST Ngày: 16-6-2023 “V/v tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Yên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đạt Thông
2. Ông Dương Thanh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Quãng Thanh Trung, là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Kim Mau - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 116/2023/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14/4/2023 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 09/TB-TA, ngày 09/5/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trịnh Bé T, sinh năm 1984, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Khóm 6, thị trấn L, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Anh Võ Văn L, sinh năm 1979, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Khóm 6, thị trấn L, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/12/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trịnh Bé T trình bày:
Năm 2002, chị và chồng tên Võ Văn L do quen biết đã tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện D năm 2002. Sau khi cưới nhau vợ chồng sinh sống tại ấp L, xã L, sau đó dời về khóm 6, thị trấn L sinh sống cho đến nay. Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Võ Tấn L, sinh ngày 04/4/2003 và Võ Ngọc Yến T, sinh ngày 06/11/2004 đều đã trưởng thành. Thời gian đầu cưới nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và trong công việc, thường xuyên cãi vã nhau. Nay tự nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục được nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Võ Văn L.
- Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Võ Tấn L, sinh ngày 04/4/2003 và Võ Ngọc Yến T, sinh ngày 06/11/2004 đều đã trưởng thành, chị không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự đề ngày 13/4/2023, bị đơn anh Võ Văn L trình bày:
Thống nhất lời khai của chị T về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn, về con chung, tài sản và nợ chung. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn do không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường hay cãi vã nhau, đôi khi anh đi nhậu về có cằn nhằn vợ. Nay đối với các yêu cầu của chị T, anh có ý kiến như sau:
- Về hôn nhân: Anh không đồng ý ly hôn với chị Trịnh Bé T vì anh còn thương vợ. Trường hợp chị T kiên quyết ly hôn thì anh đồng ý ly hôn.
- Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Võ Tấn L, sinh ngày 04/4/2003 và Võ Ngọc Yến T, sinh ngày 06/11/2004 đều đã trưởng thành, anh không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Anh không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn chị Trịnh Bé T có đơn xin xét xử vắng mặt, nội dung đơn chị T giữ nguyên yêu cầu giải quyết về hôn nhân, nuôi con, tài sản và nợ chung.
- Bị đơn anh Võ Văn L có đơn xin xét xử vắng mặt, nội dung đơn anh L giữ nguyên yêu cầu giải quyết về hôn nhân, nuôi con, tài sản và nợ chung.
Lời phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về thủ tục tố tụng: Thủ tục thụ lý hồ sơ, xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thành phần Hội đồng xét xử đều đúng quy định pháp luật. Các văn bản tố tụng từ khi khởi kiện đến khi Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều tống đạt cho các đương sự đầy đủ đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Trịnh Bé T được ly hôn với anh Võ Văn L; về con chung, cấp dưỡng nuôi con, tài sản và nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp nên không xem xét.
- Về án phí: Buộc chị Trịnh Bé T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các tình tiết, sự kiện đương sự đã thống nhất:
- Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Võ Tấn L, sinh ngày 04/4/2003 và Võ Ngọc Yến T, sinh ngày 06/11/2004 đều đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản, nợ chung: Không có tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.
Các tình tiết, sự kiện đương sự không thống nhất:
- Nguyên đơn chị T yêu cầu ly hôn với anh L; bị đơn anh L không đồng ý ly hôn với chị T vì anh còn thương vợ. Trường hợp chị T kiên quyết ly hôn thì anh đồng ý ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Chị T khởi kiện anh L yêu cầu ly hôn, không yêu cầu giải quyết về con, cấp dưỡng, tài sản và nợ chung. Anh L không có yêu cầu phản tố nào khác. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp ly hôn. Bị đơn anh L có địa chỉ cư trú tại khóm 6, thị trấn L, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trịnh Bé T:
Về hôn nhân: Chị T và anh L xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh năm 2002. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, chị T và anh L đủ điều kiện kết hôn. Căn cứ vào các Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình, xác định hôn nhân của chị T và anh L là hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, chị T và anh L đều khai nhận: Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn do không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và trong công việc, thường xuyên cãi vã nhau.
Xét thấy gia đình là tế bào xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc và bền vững. Quá trình chung sống giữa chị T và anh L chưa thống nhất với nhau về quan điểm sống, về ứng xử giao tiếp; đáng lẽ khi mâu thuẫn xảy ra anh chị phải ngồi lại tìm phương án để giải quyết mọi vấn đề bất đồng phát sinh nhằm bảo vệ hạnh phúc gia đình, nhưng khi xảy ra mâu thuẫn anh chị bỏ mặt không quan tâm đến hạnh phúc mà anh chị đã xây dựng nhiều năm qua, từ đó làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Tại các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Tòa án đã tạo điều kiện cho anh chị hàn gắn lại với nhau, tuy nhiên anh L đều vắng mặt, chị T kiên quyết xin ly hôn.
Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh L ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, xét yêu cầu xin ly hôn của chị T là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Chị T và anh L chung sống với nhau có 02 con tên Võ Tấn L, sinh ngày 04/4/2003 và Võ Ngọc Yến T, sinh ngày 06/11/2004 đều đã trưởng thành. Anh chị không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản và nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp nên không xem xét.
Về án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị T phải nộp án phí hôn nhân gia đình không có giá ngạch là 300.000 đồng.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chị Trịnh Bé T được ly hôn với anh Võ Văn L.
2. Về con chung, cấp dưỡng nuôi con, tài sản và nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp nên không xem xét.
3. Về án phí: Buộc chị Trịnh Bé T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị T đã nộp theo biên lai số 0012422 ngày 09 tháng 12 năm 2022 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duyên Hải thu.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Duyên Hải; - CCTHADS huyện Duyên Hải; - Các đương sự; - UBND xã L; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Yên |