vanban.org

Bản án 28/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị Mai T về việc yêu cầu ly hôn với Ông Phan Đại L.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mai T được ly hôn với Ông Phan Đại L. (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 148 ngày 07/10/2020 của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, TP. HCM) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị Mai T về việc yêu cầu ly hôn với Ông Phan Đại L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11-01-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Nga

2. Bà Nguyễn Thị Nguyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Minh Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh: thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia.

Ngày 11 tháng 01 năm 2023 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1013/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2022 về việc "Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 591/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mai T, sinh năm 1985.

Địa chỉ: F8/37, ấp 6, xã V, huyện B, Thành phố H

2. Bị đơn: Ông Phan Đại L, sinh năm 1984.

Địa chỉ: D16/33, ấp 4, xã V, huyện B, Thành phố H

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn – Bà Nguyễn Thị Mai T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: tôi và ông L chung sống vợ chồng từ năm 2014, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 148 ngày 07/10/2020 của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, TP. HCM. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2021, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không còn hòa hợp, ông L không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên chơi bời ăn nhậu, tôi không còn tình cảm vợ chồng. Nay tôi thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

- Về con chung: có 02 con chung tên 02 con chung tên Phan Thượng A, sinh năm 2014 và Phan Thượng K, sinh năm 2020. Hiện nay 02 con đang sống chung với tôi.

Tôi yêu cầu trực tiếp nuôi 02 con chung tên 02 con chung tên Phan Thượng A, sinh năm 2014 và Phan Thượng K, sinh năm 2020 đến trưởng thành. Tôi không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: tôi tự nguyện chịu toàn bộ án phí.

Tại phiên tòa, nguyên đơn – Bà Nguyễn Thị Mai T vắng mặt (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

Bị đơn – Ông Phan Đại L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: tôi và bà T chung sống vợ chồng từ năm 2014, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 148 ngày 07/10/2020 của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, TP. HCM. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2021, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không còn hòa hợp, tôi không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên chơi bời ăn nhậu. Nay tôi yêu cầu hòa giải, hàn gắn đoàn tụ với bà T.

- Về con chung: có 02 con chung tên 02 con chung tên Phan Thượng A, sinh năm 2014 và Phan Thượng K, sinh năm 2020. Hiện nay 02 con đang sống chung với tôi.

Nếu, ly hôn tôi yêu cầu bà T trực tiếp nuôi 02 con chung tên 02 con chung tên Phan Thượng A, sinh năm 2014 và Phan Thượng K, sinh năm 2020 đến trưởng thành. Tôi không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bị đơn – Ông Phan Đại L vắng mặt (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Mai T khởi kiện xin ly hôn với Ông Phan Đại L, đây là tranh chấp về ly hôn. Ông Phan Đại L cư trú tại huyện Bình Chánh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Bà Nguyễn Thị Mai T, Ông Phan Đại L vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mai T và Ông Phan Đại L có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 148 ngày 07/10/2020 của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, TP. HCM. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa Bà Nguyễn Thị Mai T và Ông Phan Đại L là vợ chồng hợp pháp.

Theo Bà Nguyễn Thị Mai T xác định:

- Về quan hệ hôn nhân: vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2021, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không còn hòa hợp, ông L không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên chơi bời ăn nhậu, bà T không còn tình cảm vợ chồng.

- Về con chung: Bà T yêu cầu trực tiếp nuôi 02 con chung tên Phan Thượng A, sinh năm 2014 và Phan Thượng K, sinh năm 2020 đến trưởng thành. Bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo Ông Phan Đại L cũng xác định:

- Về quan hệ hôn nhân: vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2021, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không còn hòa hợp, ông L không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên chơi bời ăn nhậu.

- Về con chung: nếu, ly hôn ông L yêu cầu bà T trực tiếp nuôi 02 con chung tên 02 con chung tên Phan Thượng A, sinh năm 2014 và Phan Thượng K, sinh năm 2020 đến trưởng thành. Ông L không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành thủ tục hòa giải giữa Bà Nguyễn Thị Mai T và Ông Phan Đại L, nhưng hòa giải không thành.

Căn cứ vào Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:

“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng”.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án quyết định cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

Xét thấy, bà T không còn tình cảm với ông L, ông L không có trách nhiệm với gia đình là vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho mục đích của hôn nhân không đạt được.

Xét quyền lợi về mọi mặt của con, bà T và ông L đều yêu cầu bà T trực tiếp nuôi 02 con chung tên Phan Thượng A, sinh năm 2014 và Phan Thượng K, sinh năm 2020 đến trưởng thành.

Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị Mai T về việc yêu cầu ly hôn với Ông Phan Đại L.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mai T được ly hôn với Ông Phan Đại L.

Về con chung: bà T trực tiếp nuôi 02 con chung tên Phan Thượng A, sinh năm 2014 và Phan Thượng K, sinh năm 2020 đến trưởng thành. Ông L không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà T và ông L xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nợ chung: Bà T và ông L xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Mai T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn theo Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) mà Bà Nguyễn Thị Mai T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0041963 ngày 14/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà Nguyễn Thị Mai T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 19, Điều 51, Điều 52, Điều 53, Điều 54, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết,

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị Mai T về việc yêu cầu ly hôn với Ông Phan Đại L.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mai T được ly hôn với Ông Phan Đại L.

(theo Giấy chứng nhận kết hôn số 148 ngày 07/10/2020 của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, TP. HCM)

Về con chung: bà T trực tiếp nuôi 02 con chung tên Phan Thượng A, sinh năm 2014 và Phan Thượng K, sinh năm 2020 đến trưởng thành. Ông L không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà T và ông L xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nợ chung: Bà T và ông L xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Mai T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) mà Bà Nguyễn Thị Mai T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số số AA/2021/0041963 ngày 14/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà Nguyễn Thị Mai T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ