vanban.org

Bản án 28/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị H

Về con chung: Giao con chung Phạm Khôi N sinh ngày 24 tháng 12 năm 2013 cho chị Đỗ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Đỗ Thị H không yêu cầu giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Thị H và Phạm Trung H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị H
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2023/HNGĐ-ST
Ngày 08-5-2023
V/v yêu cầu thay đổi người trực tiếp
nuôi con sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Định.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Văn Thôn.

2. Bà Phạm Thị Vĩnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Minh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 144/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp “Yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 228/2020/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số 320/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số 354/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H, nơi cư trú: khu T, thị trấn A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Trung H, nơi cư trú: Thôn X, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 10 năm 2022,bản tự khai, các phiên hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Đỗ Thị H trình bày:

Theo quyết định ly hôn số 63/2020/QĐST-HNGĐ ngày 24/3/2020 và quyết định sửa chữa, bổ sung số 194/2020/QĐ-SCBSBA ngày 16/4/2020 của Toà án nhân dân huyện An Lão, chị Đỗ Thị H và anh Phạm Trung H thuận tình ly hôn. Về con chung anh chị thoả thuận giao con chung Phạm Đỗ Nhật M sinh ngày 24/3/2009 cho chị Đỗ Thị H nuôi dưỡng; giao con chung Phạm Khôi N sinh ngày 24/12/2013 cho anh Phạm Trung H nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, cháu Phạm Khôi N đã ở với bố. Tuy vậy, chị H bị hạn chế việc thăm nom, chăm sóc con. Hơn nữa, anh H đã có vợ mới, sinh sống tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh và con chung của anh chị là cháu Phạm Khôi N đang thực tế chung sống với mẹ kế. Anh H đang công tác tại huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, không có điều kiện chăm sóc con nên chị H khởi kiện, đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con, theo đó chị yêu cầu được nuôi con chung là Phạm Khôi N cho đến khi thành niên và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Theo bản tự khai, các phiên hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn là anh Phạm Trung H trình bày:

Anh H xác nhận anh và chị H có con chung là Phạm Khôi N sinh ngày 24/12/2013. Theo quyết định ly hôn thì cháu N do anh nuôi dưỡng. Anh H cho rằng việc anh nuôi con chung là đúng theo quyết định của Toà án. Sau khi anh và chị H ly hôn, anh vẫn sống ở Hải Phòng nhưng chị H hay tìm cách gần con, tác động những tư tưởng không tốt cho con chung nên anh quyết định chuyển cháu ra Quảng Ninh sinh sống để nhằm ổn định tâm lý, tư tưởng cho cháu. Cuộc sống của anh hiện tại đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho con chung nên anh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị H.

- Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký, các đương sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Đỗ Thị H, giao con chung là cháu Phạm Khôi N sinh ngày 24/12/2013 cho chị Đỗ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét. Tuyên các vấn đề về án phí, quyền kháng cáo đối với các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn khởi kiện về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn đối với bị đơn là anh Phạm Trung H sinh sống tại Thôn X, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng nên đây là vụ án về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng theo khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về nội dung vụ án:

Chị Đỗ Thi H và anh Phạm Trung H trước đây là vợ chồng. Anh chị có 02 người con chung là Phạm Đỗ Nhật M sinh ngày 24/3/2009 và Phạm Khôi N sinh ngày 24/12/2013. Theo quyết định ly hôn số 63/2020/QĐST-HNGĐ ngày 24/3/2020 và quyết định sửa chữa, bổ sung số 194/2020/QĐ-SCBSBA ngày 16/4/2020 của Toà án nhân dân huyện An Lão, chị Đỗ Thị H và anh Phạm Trung H thuận tình ly hôn. Về con chung anh chị thoả thuận giao con chung Phạm Đỗ Nhật M sinh ngày 24/3/2009 cho chị H nuôi dưỡng; giao con chung Phạm Khôi N sinh ngày 24/12/2013 cho anh H nuôi dưỡng

Tòa án nhân dân huyện An Lão đã tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ, xác minh các điều kiện điều kiện nuôi con của chị Đỗ Thị H, anh Phạm Trung H và tình trạng sinh sống, học tập của cháu Phạm Khôi N. Cụ thể:

Cháu Phạm Khôi N sinh ngày 24/12/2013 là con chung của anh Phạm Trung H và chị Đỗ Thị H. Hiện tại cháu đang sống cùng mẹ kế là chị Nguyễn Thị Hồng T tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Hiện nay cháu Phạm Khôi N có nguyện vọng được ở với mẹ đẻ là chị Đỗ Thị H.

Chị Đỗ Thị H và anh Phạm Trung H đều là công chức Nhà nước tại huyện An Lão, thành phố Hải Phòng, thu nhập ổn định trên 12 triệu/tháng. Sau khi ly hôn, anh H đã kết hôn lần thứ 2 với chị Nguyễn Thị Hồng T, chị Đỗ Thị H chưa kết hôn mới. Chị H có chỗ ở ổn định là nhà riêng tại huyện An Lão, Hải Phòng. Anh H được bố mẹ đẻ cho đất tại xã T, huyện A, Hải Phòng còn căn nhà anh và chị Nguyễn Thị Hồng T sinh sống tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh là nhà thuê.

Anh Phạm Trung H đang công tác tại Công an huyện An Lão, Hải Phòng, cách nơi cháu Phạm Khôi N đang sinh sống cùng chị T là 50km. Do đặc thù công việc nên anh H tranh thủ mỗi tuần về với con được 3-4 lần. Anh H không trực tiếp nuôi con mà vợ hai là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu N. Hơn nữa, theo xác minh, nơi chị T và cháu N sinh sống cách nhà trường nơi cháu N học chừng 10km. Do điều kiện công tác, chị T hàng ngày cũng không trực tiếp đưa đón cháu N đến trường mà phải nhờ người khác đưa đón.

Theo kết quả kiểm tra sức khoẻ tại Trung tâm y tế thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh ngày 20/3/2023 thể hiện cháu N thể trạng gầy, thiếu máu, suy nhược cơ thể. Nhà trường nơi cháu N theo học cũng cung cấp thông tin về học lực của cháu N không được tốt, đứng ở top gần cuối trong lớp.

Hội đồng xét xử nhận định: Tại thời điểm anh Phạm Trung H và chị Đỗ Thị H ly hôn năm 2020, anh H nuôi con chung Phạm Khôi N là phù hợp, nhưng hoàn cảnh sống hiện tại của anh H thể hiện anh H không còn đủ những điều kiện tốt nhất để nuôi con chung so với chị Đỗ Thị H. Luật hôn nhân và gia đình cũng quy định về những trường hợp một trong hai bên cha mẹ nếu thấy bên kia không đảm bảo được việc nuôi con, có quyền yêu cầu Toà án thay đổi lại. Tại phiên toà, ngoài lời trình bày, anh H không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào chứng minh cho việc chị H trước đây hay tìm cách gần gũi cháu Phạm Khôi N, tác động vào cháu những tư tưởng không tốt. Hơn nữa, cháu Phạm Khôi N đang sinh sống với mẹ kế, anh H do điều kiện công tác không sinh sống thường xuyên với cháu nên về tâm lý và tình cảm của chị Đỗ Thị H là mẹ đẻ sẽ thấy không yên tâm trong trường hợp này là có cơ sở. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, giao con chung Phạm Khôi N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị H không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét

Về án phí: Chị Đỗ Thị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144 và khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị H

1. Về con chung: Giao con chung Phạm Khôi N sinh ngày 24 tháng 12 năm 2013 cho chị Đỗ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Đỗ Thị H không yêu cầu giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Đỗ Thị H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Đỗ Thị H đã nộp đủ số tiền trên theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001367 ngày 22 tháng 11 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thị H và anh Phạm Trung H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ